1) Về việc tìm hiểu chữ “Văn” trong Gia phả các Phái : HĐGT chụp hình chữ “Văn”  trong tên của Tổ tiên từ đời thứ 6-7-8 trong Gia phả chữ Nho của các Phái đã có từ hàng trăm năm rồi, và người viết chữ Nho đó đã qua đời lâu lắm rồi, nên không thể đổi Tộc “Trần Văn” thành ra Tộc “Trần”.

Cũng như 7 tộc Trần Tấn, Trần Hữu, Trần Đức, Trần Viết,... ở quê ta cũng giữ tên Tộc là một từ ghép gồm 2 tiếng chứ sẽ không đổi thành “Tộc Trần”. Đồng thời Gia Tộc ghi nhận các ý kiến của ông Trần Thạnh đã giúp làm sáng tỏ vấn đề chữ “Văn” mà lâu nay nhiều người cũng thắc mắc, giúp tìm ra nhiều tàng thư vốn có sẵn trong các hòm phú ý các Phái, làm minh chứng để Gia Tộc vẫn giữ chữ “Văn” trong tên Tộc, giúp các đời sau khỏi phải nghị quyết lại vấn đề nan giải này, vì người biết chữ Nho ngày càng ít và tàng thư có thể tiêu hao dần. (Xin xem thêm bài “Ý kiến về chữ Nho ở Nhà thờ Tộc”, mục “Thảo luận” của Website Tộc ta)

 

2) Về đề nghị thay “Từ Sở” bằng “Từ đường” ở cổng : Theo quy tắc trong “tín ngưỡng truyền thống của dân tộc” thì cổng nhà thờ tộc của ông Tiền Hiền, cổng làng, cổng đình tiền hiền... ghi là “Từ Môn”; còn cổng nhà thờ tộc của các tộc đi theo Tiền Hiền đều phải ghi là “Từ Sở” mới đúng đạo “hậu hiền”. Thủy Tổ tộc Lê là Tiền Hiền còn Thủy Tổ của Tộc ta là Hậu Hiền nên nhà thờ 1930 và 1992 của Tộc ta đều ghi là “Từ Sở” ở ngoài cổng, đó là một nét văn hóa của Tộc ta. (cổng chùa thì thêm chữ “Tự”寺; còn công sở hoặc doanh nghiệp thì lấy tên cơ quan trong con dấu ra ghi ở cổng.)

3) Về các tàng thư mới tìm thấy:

3.a) Quyển Gia phả cũ của Phái Ba (ông Trần Niên đang cầm trong hình trên đây): Chính quyển này giúp khẳng định rằng không phải năm 1933 Phái Ba sao chép trực tiếp từ Gia phả gốc của Tộc ra mà là nhìn chép nguyên văn một quyển Gia phả cũ hơn cũng của chính Phái Ba, và trong tàng thư cũ đó chữ “Văn” vốn đã có sẵn từ lâu lắm rồi.

3.b) Tàng thư trong hòm phú ý Phái Ba : Tàng thư này không nói gì về nguồn gốc, địa danh ở đất Bắc của Tộc ta mà chỉ ghi ngày sinh ngày mất của một số người đời thứ 10 & 11 và dành nhiều trang để ghi đóng góp xây dựng Nhà thờ Tộc ta năm 1930. Ví dụ trong 6 cột chữ Hán Nôm ở hình trên, đọc từ phải sang trái lần lượt là : Trần Sỏi góp bạc 2 giác ; Trần Bằng góp bạc 2 giác ; Trần Chắt góp bạc 2 giác ; Trần Hý : 15 tiền ; Bà Sửu : 1 giác ; Thị Tích : 1 giác. Ở trang khác thấy có người góp lúa, ví dụ : ông Trần Vị góp 4 ang, Thị Nho 2 ang ; Trần Bằng : 2 ang... Vậy đây là quyển Sổ Vàng cổ nhất của Tộc ta, ghi nhớ công đức đóng góp xây Nhà thờ Tộc thời 1930, giờ vẫn còn lưu giữ!

3.c) Giấy mời khánh thành Nhà thờ năm 1992 : Trong chuyến đi miền Nam, Ban Xây dựng nhận được tờ “Giấy mời dự Khánh thành Nhà thờ Tộc Trần Văn” năm 1992, quay rô-nê-ô trên giấy xám thô ráp, do ông Trần Văn Miết lưu giữ suốt 22 năm qua. Sở dĩ ông lưu giữ lâu như thế vì thời đó mới vào lập nghiệp ở Long Thành, còn gặp nhiều khó khăn nên không về tham dự Lễ khánh thành được, ông cảm thấy ray rứt mãi. Nay ông giao cho Ban quản trị Website Tộc giữ làm tư liệu. Chắc có lẽ đây là tờ giấy mời duy nhất còn giữ được đến nay. Qua giấy mời đó, Ban quản trị Website Tộc nhận thấy cách diễn đạt ý tưởng và thể thức văn bản... của lớp người xây Nhà thờ năm 1992 đã có những khác biệt khá nhiều so với chúng ta hiện nay. 

 

Tờ chương trình dưới đây sẽ giúp Ban Khánh thành sắp tới tự tin sắp xếp chương trình khánh thành, vì thấy chương trình Khánh thành của một số Tộc bạn có nhiều mục lạ như “Lễ tế Trời Đất”, “Lễ phóng sinh, chẩn tế”...

 

3.d) Về quyển Gia phả của Nhánh mới của Tộc Trần Văn Xuyên Tây ở Quảng Huế - Đại Lộc : Trong bài “Khái quát về Tộc Trần Văn – Làng Xuyên Tây” đã đăng trên Website Tộc ta có đoạn :

“Ngoài gia đình ông Trần Phán của Phái Tư lâu nay ở Đại Lộc thì Tộc ta còn một chi nhánh nữa, mới nhìn nhận ra nhau năm 2010, cũng đang ở Đại Lộc. Nguyên do là khoảng năm 1940, khi chiến tranh ngày càng khốc liệt, một cụ ông tộc Trần ở Đại Lộc biết cơn binh hỏa sắp ập đến... nên trước khi mất ông đã bảo người con dâu của mình (tên là Phan Thị Sẻ) lặn lội trong bom đạn đem quyển gia phả xuống xin gửi trong hòm phú ý của Tộc Trần Văn Xuyên Tây, vì ông bảo rằng chi nhánh của ông xuất thân từ Tộc Trần Văn Xuyên Tây mà ra. Khoảng năm 1980, các cụ trong HĐGT ta đạp xe lên Quảng Huế (Đại An, Đại Lộc) để tìm, vì trong quyển Gia phả đó có địa danh “Quảng Hóa”, và các cụ đã tìm ra nhánh đó, nhưng do chưa làm nhà thờ nên họ xin gửi lại trong hòm phú ý của Tộc ta. Năm 2010, chi nhánh đó đã làm xong Nhà thờ mới, họ về Xuyên Tây thỉnh quyển gia phả đó về tiếp tục thờ phụng ở Đại Lộc. Thật cảm động cho tình gia tộc và sự hồi hướng cội nguồn của cụ ông đã bảo gửi quyển Gia phả đó hơn 70 năm trước !”

          Trong tháng 11/2014, TVH đã nhờ một thầy Nho phiên dịch, về đối chiếu thấy Thủy Tổ của nhánh đó là ông Trần Văn Phỉ, con trai của ông Trần Công Ba (còn đọc là Hoa), phần mộ táng tại Mỹ Xuyên xã Tây giáp, tức là Xuyên Tây quê ta.

Sắp tới, HĐGT sẽ nghiên cứu thế hệ để xem thử Nhánh mới đó thuộc Phái nào và phân định xưng hô cho đúng thứ lớp...

3.e) Tàng thư : Hình ảnh khánh thành Nhà thờ năm 1992 : Ông Trần Như Sung cho Ban quản trị Web mượn quyển album hình ảnh về lễ khánh thành Nhà thờ năm 1992 và Lễ phát thưởng Khuyến học đầu tiên năm 1992. Đây là các tư liệu quý giá làm phong phú thư mục hình ảnh trên Website và cho thấy “thâm niên” hoạt động hơn 20 năm nay của Ban Khuyến học của Tộc.

 

“Cung nghinh Tiên linh Ông Bà Tộc Trần Văn” từ nhà riêng ông Trưởng Tộc Trần Như Sung để về an vị tại Nhà thờ mới 1992

Ông Trần Như Sung (mặc áo thụng màu xanh) đi trước đoàn rước Tiên linh về an vị ở Nhà thờ mới. (xin xem thêm nhiều hình ảnh khác ở thư mục “Hình ảnh” trên Website Tộc, trong đó sẽ gợi nhớ nhiều kỉ niệm thời 1992...)

 

Hội đồng Gia Tộc dự lễ ra mắt Ban Khuyến học Tộc Trần Văn Xuyên Tây trong ngày Tế Thu (2/7 âm lịch), chỉ vài tháng sau ngày khánhthành Nhà thờ Tộc năm 1992.

Học sinh giỏi năm học 1991-1992 được nhận thưởng Khuyến học của Gia Tộc

Tộc Trần Văn chúng ta được ghi nhận là Tộc có Ban Khuyến học sớm nhất ở TT Nam Phước và duy trì thường xuyên suốt 22 năm qua. Học sinh nào ở TH và THCS đạt loại Giỏi; học sinh THPT đạt từ Tiên tiến trở lên  thì được nhận một phần thưởng khoảng 10 quyển vở; còn các cháu đỗ vào đại học thì được nhận một số tiền từ 100.000đ đến 300.000đ tùy kinh phí vận động được mỗi năm.

3.g) Hành trình "gian nan" của 2 câu đối ông Quan Hường viết cho Đình làng Xuyên Tây

Những năm 1940, giặc Pháp đốt phá hầu hết nhà dân và các cơ sở tín ngưỡng ở địa phương ta, trong đó có Nhà thờ Tộc ta và Đình Tiền Hiền Xuyên Tây. Cụ ông Văn Bá Xuyến khuyên ông Lê Lai lưu giữ, ông Lê Lai dùng sơn viết trên 2 miếng gỗ Ngo (là loại gỗ tạp, lấy từ thùng đạn của Mỹ) hai câu đối mà trước đó ông Quan Hường viết cho Làng (nhưng đã bị cháy) để treo ở nhà riêng. Đến năm 2004, Đình Tiền hiền Mỹ Xuyên Tây được tái tạo trên nền cũ, và đôi câu đối của Quan Hường lại được chạm khắc lại để treo, như trong hình dưới đây.

 

Đây là 2 câu đối (ghép từ 2 tấm ảnh) treo ở vị trí trang trọng nhất tại Đình Tiền Hiền Xuyên Tây hiện nay, do Cử nhân Trần Dĩnh (tức Quan Hường ở Phái Nhì của Tộc ta) viết cho đình Tiền Hiền của làng ta thời xưa. Quanh cặp câu đối này có nhiều vấn đề “gian nan”, Ban quản trị Web sẽ có một chuyên đề riêng về Ông đăng trên Website Tộc.

 4) Câu đối mới : a) Do cổng mới có 4 trụ nên Ban xây dựng đã chọn thêm một cặp câu đối chữ quốc ngữ theo Giáo sư NGND Vũ Khiêu là : Vế 1) Mở rộng Nghi môn, muôn dặm đón chào con cháu tới ; Vế 2) Tân trang Từ sở, ngàn thu thành kính khói hương bay.

(Theo các nhà kiến trúc, cổng chùa, dù chỉ một lối ra vào cũng gọi là “Tam quan”, theo kinh “Đại Trí Độ Luận” của đạo Phật, “gồm “Giả quan, Không quan và Trung quan” ứng với 3 trình độ tu hành của mỗi phật tử. Còn cổng của các cơ sở tín ngưỡng dân tộc thì gọi là “Nghi môn”. Sách và in-tơ-net có rất nhiều bài viết về kiến trúc tín ngưỡng dân tộc đều có nghi môn...)

  b) Trên bình phong, phía trong sân có 2 câu chữ quốc ngữ thỉnh từ khu mộ Tổ của Tộc ta : Đức Tổ khai cơ lưu hậu thế / Nền xưa tái tạo niệm Tiền Nhân.

Về các câu đối : Như đã nói trong bài "Hoành phi, câu đối ở Nhà thờ Tộc Trần Văn" (Website Tộc), các câu đối chữ Nho sẽ được phiên âm kèm chữ quốc ngữ ở dưới. Các câu đối mới thì sẽ viết bằng chữ Quốc ngữ (Font Thư pháp 2) để tăng tính giao tiếp, giáo dục.   

Bài và ảnh : Trần Văn Hảo  

 


Khách trực tuyến

Hiện có 47 khách, 0 thành viên online