Xin gửi đến quý bà con bài viết của Ô.Trần Văn An (Phái Tư, Đời 13, Trưởng Chi III) về việc hiệu chỉnh, bổ sung một số chi tiết của Gia Phả Phái Tư sau cuộc họp ngày 04/07/2016 tại quê nhà Xuyên Tây (Duy Xuyên).

Ban QT Trang Web
Trần Văn Thông
----------------------------------------------------------------------------------------

Tôi là Trần Văn An, Trưởng Chi 3 của Phái Tư Tộc Trần Văn - Xuyên Tây.

Từ tháng 9/2015, bà con Phái Tư nhờ anh Trần Văn Hảo (Đời 14 – Phái Ba) Scan, phiên âm, vi tính giúp quyển Gia phả chữ Nho của Phái Tư. Việc này không thể giao cho dịch vụ vi tính làm được.

Qua việc phiên âm và vi tính, xét thấy có nhiều "vấn đề cần bàn" nên anh Hảo đề nghị ông Trần Văn Ba – Trưởng Phái Tư, họp các Trưởng Chi trong Phái Tư để anh giải trình rồi thảo luận để thống nhất trước khi in ấn chính thức. Cuộc họp đã diễn ra vào ngày 04/7/2016 tại Xuyên Tây.

 
(Từ phải qua: Ô.Trần Ba, Trần Nam, Trần Văn Hải, Trần Văn An, Trần Văn Luôn & Trần Văn Hảo)

Buổi họp đã thảo luận và thống nhất các vấn đề sau:

1) Quyển Gia phả chữ Nho của Phái Tư được lập vào ngày 13/3 tiết Thanh Minh năm Ất Mùi 1895. Như vậy, quyển GP này đã được lưu giữ hơn 120 năm. Bà con không ngờ rằng Phái mình có quyển GP lâu đời như thế. (xem thêm “Lời tựa” ở trang 35 của file đính kèm)

 
Hình trang bìa màu giấy đỏ chưa phiên âm chữ vi tính abc

2) Trang bìa ghi: “Trần Văn Phái Đệ Tam Chi”, còn trang ruột đầu tiên thì ghi “Đệ Tứ Phái Đệ Nhất Chi”. Theo anh Hảo, có lẽ 1895 là thời điểm bản lề, Tộc ta mới tách ra từ một Tộc chung với làng Mỹ Xuyên Đông, nên đã đổi từ “Trần Văn Phái” thành “Trần Văn Tộc” ở Mỹ Xuyên Tây chăng (?)

 
Hình trang bìa màu giấy đỏ đã phiên âm kèm chữ vi tính abc

3) Quyển Gia phả chữ Nho Phái Tư không ghi các Đời từ 1 đến Đời 5. Còn quyển chữ quốc ngữ nhờ ông Vỹ lập năm 1990 thì ghi không đúng nguyên văn Đời I đến Đời V như quyển chữ Nho “Trần cự tộc thế hệ chí” của Tộc.

Các Trưởng Chi trong Phái Tư thống nhất in toàn bộ quyển Gia phả chữ Nho “Trần Cự Tộc thế hệ chí” của Tộc vào phần đầu của quyển Gia phả Phái Tư. Trong đó, giải thích cho con cháu rõ rằng: Ông Đầu Phái: Trần Công Nhơn là "con của một Ông nào đó" trong số 35 Ông ở Đời thứ V; là "cháu nội của một Ông nào đó" trong 22 Ông ở Đời thứ IV (chứ không phải con ông Hương, cháu ông Lại, như đã tưởng nhầm xưa nay, vì Gia phả gốc của Tộc chỉ liệt kê chứ không ghi “ai sinh ra ai”.)

(xem toàn tập Gia phả ở file đính kèm)

4) Nội dung bên trong của quyển GP chữ Nho Phái Tư ghi đầy đủ 5 Chi của Phái Tư từ Đời thứ 6 đến Đời thứ 9; và ghi tiếp Đời 10,11,12 của riêng các Chi I,II,III,V. Do đó, có thể nói đây là quyển Gia phả chung của cả 5 Chi trong Phái Tư, dù rằng ý tưởng ban đầu là viết riêng cho Chi Nhất định cư chủ yếu ở huyện Đại Lộc, Quảng Nam.


Đời 6&7 đã phiên âm, kèm chữ vi tính

5) Từ Đời thứ 10 thì quyển chữ Nho không ghi tên ai của Chi IV nữa. Tuy nhiên, đây là Chi của ông Trần Bàn, Trần Hoành, Trần Gia Thoại vẫn kế tục đến nay. Vậy, Phái Tư vẫn đủ 5 Chi như đã cung cấp để thành lập HĐGT vào 01/2016. Nhờ đó, thắc mắc của HĐGT về số Chi của Phái Tư đã được giải đáp có tính thuyết phục.

6) Một điểm cần chú ý là đã có sự nhầm lẫn về Đời, cụ thể là tất cả các Đời ghi bằng chữ Nho trong quyển Gia phả chữ Nho này đều bị “nhỏ đi một Đời” so với thực tế. Ví dụ ông Đầu Phái Trần Văn Nhơn, lẽ ra phải là Đời thứ VI như trong quyển “Trần cự tộc thế hệ chí” của Tộc ta, nhưng lại ghi trong quyển này là Đời thứ VII. Và vì thế các Đời sau đó đều nhỏ đi một Đời. Sự nhầm lẫn này đã được các cụ tiền bối đính chính bằng các chữ số 6,7,…,12 cho đúng với thực tế.

Cụ thể: Số 1,2,3,4,5,6,... lẽ ra phải ứng với các chữ Nho đúng như sau:

Số→

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Nho

十一

十二

Chi I của Phái Tư lên định cư ở Đại Lộc đã nhiều đời, có lẽ không đối chiếu được với quyển GP gốc ở Mỹ Xuyên Tây nên tưởng ông Nhơn là Đời thứ 7 nên Gia phả ghi chữ Nho là “七”, nhưng tiền bối đã ghi số 6 bên cạnh chữ “thất 七” để xác định ông Nhơn là Đời thứ 6.

Chú ý: Để tránh bị sửa số trong các văn bản quan trọng nên người xưa không dùng các chữ Nho “ít nét” như trên để ghi các số 3,4,6,7,8 mà thay bằng “chữ ghi kép” để tránh tẩy xóa, thành 3叁,4肆,6陸,7柒,8捌

7) Về cách phân định “ai là anh, ai là em” giữa các người con trong một gia đình, thì quyển Gia phả chữ Nho Phái Tư vẫn ghi theo quy ước ngày xưa : “Tên anh ghi ở trên, tên em ghi ở dưới”; “lớn ghi bên phải, nhỏ ghi bên trái”.

Xem trang 36 đã in trên đây, ở Đời thứ 7, ông Nghĩa 義 là anh được ghi ở trên, ông Ứng應 là em được ghi ở dưới. Ông Nghĩa vô tự (ko có con trai) nên không ghi diễn dẫn “sinh hạ” gì thêm.

Ông Ứng sinh hạ 5 người con trai thuộc Đời thứ VIII, được ghi theo thứ tự là:

Hai ông sinh ra trước theo thứ tự “trên/dưới” lần lượt anh cả là ông Chi 之; con trai thứ nhì là ông Củng 拱 (Cũng, Cõng, Cùng)

Cột bên trái ghi 3 ông sinh sau theo thứ tự “trên/dưới” lần lượt con trai thứ ba là ông Kỳ (Cầy) ; con trai thứ tư là ông Cò (Cồ); con trai út thứ năm là ông Truyền (Truyện)傳. 

Như vậy, ông Chi thuộc Chi Nhất; ông Củng (Cõng) thuộc Chi Nhì; Ông Kỳ (Cầy) thuộc Chi Ba; ông Cò (Cồ) thuộc Chi Tư; ông Truyền thuộc Chi Năm.

Như vậy, Phái Tư phân chia thành 5 Chi vào Đời thứ VIII.

Các “Trưởng Chi hiện nay” của mỗi Chi trên đúng ra phải là:

Trưởng Chi I

Trưởng Chi II

Trưởng Chi III

Trưởng Chi IV

Trưởng Chi V

Trần Văn Ba

(Đời 12)

Trần Văn Hưởng (Đ.13)

Trần Văn An

(Đời 13)

Trần Nam (Đời 12)

Trần Văn Luôn (Đời 12)

(Ông Ba làm Trưởng Phái, kiêm Trưởng Chi I)

Tuy nhiên, so với báo cáo của Phái Tư với HĐGT lâm thời vào tháng 01/2016, thì vị trí ông Nam và ông An bị nhầm chỗ cho nhau, nghĩa là ông Trần Nam và Trần Văn An phải đổi chỗ cho nhau trong bảng trên. Việc này lâu nay cũng đã có sự nghi vấn phong thanh bằng lời. Nay đã có chứng lí chữ Nho tường minh, được các Trưởng Chi vui vẻ chấp nhận nên Phái Tư sẽ báo cáo cho HĐGT điều chỉnh từ nay ông Trần Văn An là Trưởng Chi III, còn ông Trần Nam là Trưởng Chi IV; việc xưng hô cũng vì thế mà thay đổi theo cho đúng theo thứ lớp trong Phái.

8) Sau khi bổ sung các tư liệu do ông Trần Nam cung cấp để hoàn chỉnh Lược đồ, thì phát hiện thêm một sự nhầm lẫn về thứ lớp của gia đình ông Trần Năng cần được đính chính để xưng hô cho đúng. Ông Trần Năng đi tập kết từ 1954 ở Hà Nội, và mới liên lạc lại được với Tộc ta lúc sắp khánh thành Nhà thờ mới 2015.

Hai năm qua, các cụ cao niên ở Xuyên Tây cho rằng ông Trần Năng thuộc Đời thứ 13. Nhưng nay, qua tư liệu mà ông Trần Nam cung cấp thì ông Năng thuộc Đời thứ 12, con trai ông là Trần Tiến thuộc Đời thứ 13 mới đúng. (xem Lược đồ)

9) Toàn Phái thống nhất in ra cho mỗi Chi một quyển gồm 4 “phần” chính như sau: 

TT

Nội dung

Từ trang

1)

Phần thứ I: Gia phả chữ Nho của Tộc & Lược đồ theo Gia phả chữ Nho của Tộc (chung cho cả 4 Phái)

3 - 33

2)

Phần thứ II: Gia phả chữ Nho của Phái Tư (chung cho cả 5 Chi)

34 - 53

3)

Phần thứ III: Phiên âm quốc ngữ nguyên văn quyển Gia phả chữ Nho của Phái Tư

55 - 95

4)

Lược đồ “Tộc – Phái Tư – 5 Chi” theo quyển Gia phả chữ Nho của Phái Tư

94

5)

Phần thứ IV: Gia phả của mỗi Chi trong Phái Tư (ghi các nội dung đính chính, bổ sung quyển chữ Nho, rồi ghi tiếp hậu sinh hiện nay

95 về sau

Phần thứ I, II và Lược đồ Phái Tư sẽ in màu. Các phần còn lại photocopy trắng đen.

Về việc cập nhật con cháu từ nay về sau sẽ giao cho từng Chi tự bổ sung sự tăng giảm dân số trong nội bộ Chi của mình vào quyển Gia phả đã giao cho mỗi Trưởng Chi chứ không ghi chung cả Phái một quyển.

10) Phái Tư cử ông Trần Văn An giới thiệu quyển Gia phả 2016 lên email và đề nghị Quản trị Website bổ sung vào Gia hệ trên Website Tộc.

TL. TRƯỞNG PHÁI TƯ

Người công bố
Trần Văn An
(Trưởng Chi III)

 

 

 

 


Khách trực tuyến

Hiện có 7 khách, 0 thành viên online