Bài "Hỏi đáp về Tín ngưỡng và việc Tộc (Phần 1) đã có 12 câu hỏi và đáp, còn đây là "phần 2" bắt đầu từ "câu 13"

Câu 13) Vì sao khi cúng tế, người Tộc Trần thường khấn “Dĩnh Xuyên quận”?

          Trong Văn tế ở nhà thờ Tộc ta (có đăng ở thư mục “Tư liệu” của Website), trong phần “kính thưa” có ghi :

-         Thượng Thượng niệm : Phụng vị bổn âm đường Dĩnh Xuyên quận Thái Thái... Thủy Tổ TRẦN  VĂN TỘC lịch đại tiền quá vãng chư thần vị.

Vậy quận Dĩnh Xuyên ở đâu? Nên hiểu địa danh này thế nào cho đúng ?

 

 Dĩnh Xuyên 颍川 là một địa danh hành chính cấp quận từ thời Tần đến thời Đường tại Trung Quốc, nay thuộc trung bộ tỉnh Hà Nam (Trung Quốc). Nơi đây có dòng sông Dĩnh chảy qua nên có tên này. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên, đã chia toàn quốc thành 36 quận, và Dĩnh Xuyên trở thành một trong 36 quận xứ hành chính đầu tiên của nhà Tần.

Theo các công trình nghiên cứu thì tài liệu “Bách tính quận danh” là một văn bản do một thầy đồ bên Tàu viết ra để có tư liệu làm điểm tựa dạy chữ Hán và dạy địa lí... cho học trò nhỏ ngày xưa. Thầy đồ này cho rằng mỗi Tộc Họ có một “đất tổ” riêng ở Trung Quốc. Ví dụ : Tộc Phạm có quê gốc ở “Cao Bình quận” ; Tộc Trần, Tộc Lại có quê gốc là “Dĩnh Xuyên quận”; cũng có khi 8 Tộc có cùng một “quận danh” như tộc ĐỔ - TỐNG - LÊ - UNG - THU - BỘ - ĐOÀN - HỨA - SỬ  cùng có địa danh là Kinh Triệu quận ; Tộc ĐINH : Tế Nam Quận ; tộc HOÀNG - HUỲNH : Giang Hà Quận v...v...
          Nói chung, “Bách tính quận danh” là một tư liệu do một “thầy giáo làng” bên Tàu viết ra để làm tư liệu dạy cho học trò, tư liệu này chưa có cơ sở khoa học về dân tộc học và áp đặt trong thống kê cho đủ 36 quận, nhưng do trong thời kì nước ta bị phương Bắc độ hộ, các thái thú, thứ sử người Tàu (ví dụ Sĩ Nhiếp) đã phổ biến “Bách tính quận danh” để tuyên truyền rằng các tộc họ người Việt vốn là con cháu của người Tàu nhằm dễ bề cai trị. Đây là một cách "biến hư thành thực" để “xâm lược về văn hóa” của người Tàu! Ví như "đường lưỡi bò" do một họa sĩ "vẽ đùa" trong truyện tranh thiếu nhi, nhưng cũng "biến hư thành thực" để thành đường 9 đoạn trên Biển Đông hiện nay!

Kết quả khảo cổ cho thấy từ hàng vạn năm trước đã có người Việt cổ sống trên đất nước mình. Người Việt cổ tạo nên văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình,... Người Việt để tóc dài, nhuộm răng đen... để khẳng định mình không cùng huyết thống với người Tàu. Gần đây, các nhà khảo cổ nước Anh phát hiện xương hóa thạch của người Việt cổ đã có từ hơn 2 vạn năm trước ở các hang động Ninh Bình. Còn các vùng đất ở Trung Bộ, Nam Bộ thời ấy đã có người Chăm - chủ nhân của nền văn hóa Ốc Eo, Sa Huỳnh. Ở Campuchia, Philippin... thời ấy đều đã có người bản địa sinh sống chứ không phải chờ người từ TQ di cư đến. Nếu tìm kiếm trên báo mạng để đọc bài "Sọ người ở Lào thay đổi lịch sử Đông Nam Á" thì sẽ thấy "Kết quả phân tích cho thấy niên đại của nó từ 46.000 tới 63.000 năm. Với niên đại như thế, nó là hóa thạch người cổ xưa nhất mà giới khoa học từng phát hiện tại khu vực Đông Nam Á, AFP đưa tin... Hóa thạch này cho thấy quá trình di cư từ Châu Phi tới Đông Á và Đông Nam Á của loài người diễn ra với tốc độ tương đối nhanh. Ngay sau khi tới Đông Nam Á, tổ tiên của chúng ta tiếp tục khám phá những môi trường xa lạ so với môi trường mà họ từng thấy ở Châu Phi".  

Cũng có người cho rằng các “quận danh” đó là địa danh ở “thế giới bên kia” của mỗi Tộc, cho nên trong Văn tế xưa nay của Tộc Trần đều có câuThượng Thượng niệm : Phụng vị bổn âm đường Dĩnh Xuyên quận TRẦN  VĂN TỘC (“bổn âm đường” là “nhà ở cõi âm, là xứ đất ở cõi âm”).

Tuy nhiên, các “quận âm, quận danh” đó đã ăn sâu trong nhận thức của nhiều Tộc Họ ở nước ta nên chúng ta vẫn khấn vái “Dĩnh Xuyên quận” như là một “quận âm ở thế giới bên kia”. Còn trong nhận thức thì hãy cứ xem “Mỹ Xuyên Tây” là “quê Cha đất Tổ” của Tộc Trần Văn – Xuyên Tây cho chắc. Khi nào kết nối được Gia phả của chúng ta với bà con ở miền Bắc thì sẽ bổ sung địa danh xa xưa hơn của Tộc mình.

(Xin xem thêm phần "Phụ lục", sau câu 20. Trong phụ lục đó, Dĩnh Xuyên quận không chỉ là quận danh của Tộc Trần mà còn là quân danh của 6 Tộc khác nữa) 

Câu 14) Trong Nhà thờ Tộc có thờ các vị Thần hay không ?

Trong lễ khánh thành Nhà thờ Tộc ta vừa qua (3/2015), có người đặt câu hỏi là “Trong Nhà thờ Tộc có thờ các vị Thần hay không ?”, và đề nghị sửa “Tế thần, Thần tại về nơi Từ đường” thành “Tổ Tiên linh hiển về nơi Từ đường”. Văn thư TVH cho rằng thay thế như vậy cũng được, nhưng trong nhận thức thì cần khẳng định rằng tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên Ông Bà vốn là “đạo thờ Thần” của người Việt, là “Điều 1” của tín ngưỡng.

Nguyễn Đình Chiểu, lúc bị mù đã viết để trả lời thư dụ dỗ của giặc rằng:

Thà đui mà giữ Đạo nhà

Còn hơn có mắt, Ông Cha không thờ ! 

"Đạo nhà" ấy chính là "đạo thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ... của dân tộc VN". Tuy nhiên, từ khi có Pháp lệnh "Tín ngưỡng và Tôn giáo", theo đề nghị của các nhà nghiên cứu đầu ngành nên Nhà nước xem "Đạo nhà" đó được xếp vào "tín ngưỡng" chứ không phải "tôn giáo", không dùng từ "đạo lương" để phân biệt giữa "lương" với "giáo" nữa.

     Trong kho tàng câu đối chữ Nho trong nhà thờ tộc có câu “Nhật nguyệt quang chiếu thập phương – Tổ tông lưu thùy vạn thế”. Cho nên trong Văn tế và Diễn văn khánh thành Nhà thờ của Tộc ta (có đăng ở thư mục “Tư liệu” của Website), có ghi một đoạn thơ theo thể "song thất lục bát" vốn được lưu truyền từ xa xưa trong dân gian :

   “Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ

Đức Tổ Tông muôn thưở sáng ngời

Ngẩng trông: phúc ấm nối đời

Tế Thần, Thần tại về nơi Từ đường

Để con cháu lửa hương phụng sự

Nghìn năm sau : Xuân tự, Thu thường”

(chữ “tự” và chữ “thường” đều có nghĩa là “thờ cúng”, ví dụ “tiên thường” là lễ cúng vào ngày hôm trước để báo cho Tổ Tông ở cõi âm về dự trong lễ cúng tế chính thức vào ngày hôm sau... ; còn “Tế Thần, Thần tại” là dựa vào ý trong lời dạy của Khổng Tử : “Kính Thần như Thần tại”)

Cả nước VN thờ các vị “Thượng đẳng Thần” , mỗi vùng miền (tỉnh, huyện, làng) thờ thêm các “Trung đẳng Thần”. Sách “Minh Mạng chính yếu”, quyển thứ 12, năm Minh Mạng thứ 20 (1839) có ghi một vị “Hạ đẳng Thần” tên là Thành hoàng Bổn cảnh (神隍本境) là vị Thần ở mỗi gia đình hoặc ở Nhà thờ Tộc. Và con cháu cũng tôn vinh Tổ tiên ông bà của mình là các vị “hạ đẳng thần” nên Văn tế 1992 và 2015 của Tộc ta đều có nhiều chữ “thần”, là đúng chuẩn tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc ta chứ không sai.

Theo các tài liệu xưa nay, thì tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên Ông Bà vốn là “đạo thờ Thần” của người Việt, con cháu tự tôn vinh Tổ tiên ông bà của dòng tộc mình là các vị Thần. Đây là “Điều 1”, tức là điều then chốt nhất trong tín ngưỡng, nó chi phối nhiều vấn đề trong “việc Tộc”, nhưng không phải ai cũng biết, họ nghĩ trong gia đình và trong Nhà thờ tộc chỉ có các vị Thần Đất (Thổ Thần), Thần Tài, Thần Lửa (Táo quân)... 

Băng ghi âm Văn tế khánh thành năm 1992 của Tộc ta, hiện còn lưu giữ và còn mở ra nghe được, cũng nhắc đến hàng chục tiếng “Thần” :

- Hiển Thủy Tổ hậu hiền khai cơ sáng nghiệp Mỹ Xuyên Tây : Trần Công húy Nga đại lan chi Thần.                    

- Triệu Thủy Tổ Tỉ chi thần vị

- Hiển Tiên Tiên Tổ khảo, tỉ thần vị

- Tiên Tiên Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Tiên Tổ khảo, tỉ thần vị

- Tiên Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Cao Cao Tổ khảo, tỉ thần vị v...v...

 

 Câu 15) Tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau như thế nào ?

 Cần phân biệt sự khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo để thực hành nghi thức trong các cơ sở tín ngưỡng, như nhà thờ tộc của chúng ta, đảm bảo tính bản sắc của tín ngưỡng, không nhập nhằng giữa tín ngưỡng (ví dụ: Nhà thờ tộc) với tôn giáo. (xin hãy đọc thêm các bài ở mục ghi chú dưới bài này)

Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo của Quốc hội và Nghị định số 92/2012/NĐ -CP của Chính phủ xác định : “đền thờ, nhà thờ Tộc, đình Tiền hiền, miếu xóm, lăng Bà, Đài Nam Giao, Lễ hội Hùng Vương... thuộc lĩnh vực Tín ngưỡng chứ không phải lĩnh vực Tôn giáo”.

 Nhà thờ Tộc là tín ngưỡng thờ phụng Tổ tiên thì phải theo những nghi thức cổ truyền của dân tộc để giữ bản sắc riêng của mình, không để tôn giáo hoặc mê tín dị đoan xâm nhập hoặc biến tướng. Ví dụ nhà thờ Tộc ta không xây Miếu Tổ Cô vì đó là sản phẩm của mê tín, đồng bóng ; mà chỉ xây cái Miếu Thổ Thần theo đúng quy định ở sách “Minh Mạng chính yếu” cách đây 200 năm.

 Câu 16) Phân biệt cốt lõi sự khác nhau giữa tín ngưỡng với tôn giáo

 Nhiều người tưởng Tín ngưỡng đồng nghĩa với Tôn giáo. Tôn giáo thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay, như Phật giáo, Cao đài, Thiên chúa... Còn tín ngưỡng thì có rất rất nhiều, bao gồm thờ cúng ông bà ở gia đình, ở Nhà thờ Tộc, thờ các vị “thần” ở đình làng, ở các lăng miếu; rồi rất nhiều các lễ hội ở từng vùng miền... Muốn Nhà thờ Tộc giữ đúng tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc, cần phải phân biệt được sự khác nhau giữa tính ngưỡng và tôn giáo.

Thuật ngữ

Tín ngưỡng

Tôn giáo

Linh vật

Long Lân Quy Phụng

Hoa sen, chữ Vạn, thánh giá,...

Cờ, áo

Cờ dân tộc, áo dài khăn đóng

Cờ tôn giáo, áo cà-sa, “xuống” tóc

Nhạc cụ

Chiêng, trống, nhạc cổ truyền

Chuông, mỏ, khánh, chuông lắc,...

Thờ ai?

Tế Trời – Đất – Thần – Thánh  - Tổ tiên – chư vong linh

Thờ Phật, Chúa, Thượng đế, Môhamet...

Lễ phẩm

Có rượu có thịt ; có “chước tửu” ; (rót rượu) ; có thọ tộ (Thủy Tổ ban cho chánh tế miếng tợ, là một miếng thịt đã cúng, gọi là ban phước)

Phật giáo & Cao Đài : Toàn chay (Cao Đài có cúng rượu) ; Các tôn giáo còn lại cúng mặn, ăn mặn.  Tín đồ Đạo Hồi chỉ kị thịt heo ; tín đồ Ấn Độ Giáo chỉ kị thịt bò...

Kinh sách

Xướng tế (hưng, bái, phủ phục, bình thân,...). Một số câu đối và vài bài Văn tế

Nam mô, a-men..., rất nhiều pho kinh sách để tín đồ tụng niệm

“Thế giới bên kia”

Suối vàng, chín suối, tiên cảnh, cửu tuyền, Tiên linh như đang ở đâu đó trên núi rừng Trường Sơn, có thể “đi-về” với con cháu, về Nhà thờ Tộc để được con cháu tế tự và phù hộ, độ trì cho con cháu.

Niết bàn, thiên đường, cực lạc, ba mươi sáu ngàn thế giới (tam thập lục thiên thế giới). Các nơi xa xăm đó Tiên linh liệu có về được với con cháu, về Nhà thờ dự tế tự ?

 Câu 17) Phân biệt các đời “Thái, Thủy, Tiên, Cao, Tằng, Tổ, Khảo” trong Văn tế, như đã trích dẫn ở câu 13 trên đây.

Trong các từ “Thủy, Tiên, Cao, Tằng, Tổ, Khảo” thì chữ “Tổ” là “cha của cha của người chánh bái”, tức là ông nội hoặc bà nội của người quỳ trước bàn thờ căn giữa, chứ nó không phải có nghĩa khái quát như trong từ “Tổ tiên” hay "Tổ Tông". Chữ “hiển” có 3 nghĩa, riêng trong Văn tế thì 顯 hiển là từcon cháu gọi tổ tiên cũng xưng là hiển”. Như bố đã chết gọi là hiển khảo 顯考, mẹ đã chết gọi là hiển tỷ 顯妣.

Trước hết, phải lấy người chánh bái trong tế lễ làm cái mốc để “xưng hô” các đời từ thấp đến cao của chánh bái như sau :

Quan hệ

           Từ ngữ Hán Việt

                  Từ ngữ thuần Việt

Trực hệ

Thân phụ, thân mẫu

Cha, mẹ ruột

Hiển khảo tỷ

Cha mẹ đã mất

Tổ phụ, tổ mẫu

Ông, bà Nội

Hiển tổ khảo, tỷ

Ông, bà Nội đã mất

Tằng tổ khảo, tỷ

Ông, bà Cố

Cao tổ khảo, tỷ

Ông, bà Tổ

Cao cao tổ khảo, tỷ

Cha mẹ của ông bà Tổ

Cao Cao Cao tổ khảo, tỷ

Cha mẹ của ông bà Tổ

Cứ thêm một đời trước đời Cao Tổ thì thêm 1 chữ Cao, nhưng nếu tộc nào gia phả có nhiều đời, nhiều thế hệ “Cao” hoặc “Tiên” thì người xưa gọi chung nhiều đời “Cao” hoặc “Tiên” bằng “Cao Cao...” hoặc “Tiên Tiên...”, dấu 3 chấm thay cho các từ “Cao” hoặc “Tiên” ở phía sau

Tiên tổ khảo, tỷ

Là đời “liền trên” đời “Cao”

Thủy Tổ

Ông Tổ đời thừ nhất

Thái Thủy Tổ

Cha của ông Thủy Tổ

Thái Thái Thủy Tổ

Ông Nội của ông Thủy Tổ

Thái Thái Thái Thủy Tổ

Ông Cố của ông Thủy Tổ

 

Cứ thêm một đời trước “Ông Thủy Tổ đời thừ nhất” thì thêm 1 chữ Thái, nhưng tộc nào cũng có vô số đời trước “Ông Thủy Tổ đời thừ nhất” nên người xưa gọi chung nhiều đời “Thái” bằng “Thái Thái...”, dấu 3 chấm thay cho các từ “Thái” chứ không thể xướng vô số lần từ “Thái”

Hiện nay cũng có tộc tinh giản các dòng “Tuyên bố lí do" và phần "kính thưa” để dành trọng tâm cho phần “hậu ngữ”. Ví dụ trên một số Website Tộc đã có văn tế viết gọn 2 phần trên như sau : "Nhân ngày giỗ Tổ, vâng theo lệ cổ, sắm các lễ vật hương đăng, phù tửu, quả phẩm, kim ngân, minh y, sanh tư bàn soạn, thứ phẩm chi nghi. Kính cáo trước linh vị của hiển Thái Thủy tổ khảo tỷ, hiển thủy tổ khảo tỷ, cao cao tổ khảo, cao cao tổ tỷ, cao tổ khảo, cao tổ tỷ, tổ khảo, tổ tỷ và liệt vị tiên linh... (viết như thế là quá gọn, mất tính chuẩn mực tối thiểu! TVH sẽ viết Phần 3 về một số chi tiết trong Văn tế, cũng có nhiều điều rất hay, mới biết!)

Hiện nay, nhiều Nhánh Tộc chỉ biết 4 đến 5-6-7... đời, còn trên nữa là ai, tên gì, ở đâu đều không biết vì không có Gia phả gốc. Riêng Tộc ta còn giữ được Gia phả gốc, tường minh từ đời 1 đến đời 17 như hiện nay. Hoặc một số Tộc cho rằng họ có Gia phả 25-30 đời. Nếu “kính thưa” từng đời (ví dụ : Đệ nhất thế Tổ..., Đệ nhị thế Tổ...; Đệ thập tứ thế ...chư tiên linh liệt vị...) , mỗi đời 2 lần xướng thì sẽ mất rất nhiều thời gian “diễn xướng” riêng cho phần “kính thưa”, đến phần quan trọng nhất của Văn tế là phần Hậu ngữ Nho và Hậu ngữ Nôm thì người xướng đã “hết hơi”, đọc không còn rõ tiếng !

     Do đó, các tộc thường ghép một số đời "cùng nhóm Tiên hoặc cùng nhóm Cao" thành một lần xướng cho nhanh mà vẫn không bỏ sót một ai. Ví dụ “Thượng Thượng/Thượng” ; “Tiên Tiên/Tiên” ; “Cao Cao/Cao” trong Văn tế ở Nhà thờ Tộc hoặc ở Chạp mã ở các phái.

     Riêng Tộc ta, “Thượng Thượng niệm...” là “kính thưa” vô số đời từ thời thượng cổ mà ta không biết tên. Còn “Thượng niệm” là “kính thưa”  duy nhất ông Thủy Tổ mà ta biết họ tên là “Trần Công húy Nga”

     “Tiên Tiên Tổ...” là gọi chung các đời từ đời thứ hai cho đến đời thứ 5, trước khi chia thành các Phái. Còn “Tiên Tổ” là các ông ở đời thứ 6, khi bắt đầu phân chia thành các Phái.

Tương tự, “Cao Cao... Tổ” là gọi chung các đời từ đời thứ 7 cho đến đời thứ A (muốn biết A là đời thứ mấy thì phải lấy đời của “chánh tế” đếm ngược lên... Ví dụ : ông TVK đời thứ 13, là Trưởng Tộc làm chánh tế. Vậy cha mẹ của ông TVK đời thứ 12 là “khảo” ; ông bà nội ông TVK đời thứ 11 là “Tổ” ; ông bà cố của ông TVK đời thứ 10 là “Tằng” ; đời thứ 9 là “Cao”, đời thứ 8 là “Cao Cao”. Như vậy A = 8.  Và “Cao Cao... Tổ” là gọi chung các đời từ đời thứ 7 cho đến đời thứ 8, tinh giản được 2 dòng xướng.

Năm mươi năm sau (hoặc ngay bây giờ), một trai đinh ở đời thứ 15 của "Phái Nhất Chi Nhất" làm Trưởng Tộc thì A = 10. Và “Cao Cao... Tổ” là gọi chung các đời từ đời thứ 7 cho đến đời thứ 10, tinh giản được 6 dòng xướng, để chuyển nhanh qua phần quan trọng của Văn tế nhiều người đang chờ để nghe là phần Hậu ngữ Nho và Hậu ngữ Nôm...

 

Câu 18) Vì sao nói hào khí chống quân Nguyên Mông là “Hào khí Đông A”

          Thế kỉ 13, Nhà Trần lãnh đạo quân dân nước Việt đánh tan 3 lần xâm lăng của quân Nguyên Mông. Trong phép "chiết tự" chữ Hán Nôm thì chữ Trần 陳 gồm chữ Đông (ở bên phải chữ ) và chữ A (ở bên trái chữ ) ghép lại thành chữ Trần, nên khi nói đến hào khí chống quân Nguyên Mông thời Trần người ta thường dùng cụm từ “hào khí Đông A”, tức là hào khí thời Trần.

 

Câu 19) Ông Tổ Tộc Trần của cả nước ta có phải là Thượng hoàng Trần Nhân Tông thế kỉ thứ 13 hay không ?

Như ở câu 13 nêu trên đây có nói “...từ hàng vạn năm trước đã có người Việt cổ sống trên đất nước mình. Người Việt cổ tạo nên văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình, ... cách đây hàng vạn năm”. Cho nên, nếu nói ông Tổ của Tộc Trần là Trần Nhân Tông, ông Tổ của Tộc Ngô là Ngô Quyền, ông Tổ của Tộc Nguyễn là Nguyễn Trãi... thì đều là áp đặt, “thấy người sang bắt quàng làm... Tổ”. Chỉ nên nói ông Tổ của từng nhánh Tộc Trần, ví dụ Thủy Tổ của Tộc Trần Văn Xuyên Tây là ông Trần Công húy Nga ; ở trên ông còn có vô số đời. Còn ông Tổ của cả Tộc Trần của nước Việt Nam thì đã có từ khi dân Việt phân chia thành các Thị Tộc từ thời cổ đại mà ta không thể biết tên.

 

 Câu 20) Nhà thờ Tộc là “Từ đường” hay “Tự đường” ?

Chữ 堂 đường có nghĩa là “gian nhà hoặc cái nhà để làm lễ”, nó là danh từ.

Chữ 祠 từ có nghĩa là “Ðền thờ, nhà thờ”, nó là danh từ.

Chữ 祀 tự có nghĩa là “Tế, cúng tế”, nó là động từ.

Do đó, danh từ Nhà thờ Tộc là “Từ đường” mới đúng, chứ không phải "Tự đường" 

Cần phân biệt chữ "tự" 寺 ở cổng chùa, chữ "tự 寺" có nghĩa là "chùa" và nó thường đứng sau danh từ chỉ tên chùa, ví dụ "Thiền Quang tự", "Triêm Ân tự", Liên Hoa tự... 

                                                             Trần Văn Hảo khảo biên

Ghi chú : Bà con có thể tìm đọc thêm các văn bản sau về các nội dung trên :

a) Thông tư số 04/20140TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 30/5/2014 Hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo;

b) CV số 796/HD-BVHTTDL (18/3/2009) của Bộ VH hướng dẫn việc tổ chức nghi lễ dâng hương;

c) Việt Nam Phong tục sách – Phan Kế Bính

d) An Nam phong tục sách – Mai Vương Đoàn Triển

e) Từ điển Việt Nam lễ tục – Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo

g) Từ điển Hán Việt...

Chắc hẳn có nhiều điều cần thảo luận thêm, xin liên hệ This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. . Hẹn gặp lại bà con ở bài "Hỏi đáp về Tín ngưỡng và việc Tộc (Phần 3)" 

 

 Phụ lục : Trong bảng Bách gia tính đã liệt kê danh sách của 568 họ, mỗi họ đều có kèm theo tên của địa phương (hoặc quận danh) bằng một bài trường thi mỗi câu 3 chữ như sau :

  Triệu 趙 (Thiên Thủy) Tiền 錢 (Bành Thành) Tôn 孫 (Lạc An) Lý 李(Lũng Tây).

 Châu 周 (Nhữ Nam) Ngô 吳 (Diên Lăng) Trịnh 鄭 (Vinh Dương)Vương 王 (Thái Nguyên)

 Phùng 馮 (Thủy Bình) Trần 陳 (Dĩnh Xuyên) Chử 楮 (HàNam) Vệ 衛  (Hà Đông).

 Tưởng 蔣 (Loan An) Trầm 沈 (Cụ Châu) Hàn 韓 ( Nam Dương) Dương 楊 (Hoành Nông)

 Chu 朱 (Phái Quốc) Tần 秦 (Thiên Thủy) Vưu 尤 (Ngô Hưng) Hứa 許(Cao Dương).

 Hà 何 (Lư Giang) Lữ 呂 (Hà Đông) Thi 施 (Ngô Hưng) Trương  張(Thanh Hà).

 Khổng 孔 (Đông Lỗ) Tào 曹 (Yên Quốc) Nghiêm 嚴 (Thiên Thủy) Hoa華 (Thiên Thủy)

 Kim 金 (Bành Thành) Ngụy 魏 (Cự Lộc) Đào 陶 (Tế Lương) Khương姜 (Thiên Thủy).

 Thích 戚 (Đông Hải) Tạ 謝 (Trần Lưu) Trâu  鄒 (Phạm Dương) Dụ喻 (Giang Hạ).

 Bá 柏  (Ngụy Quận) Thủy 水 (Ngô Hưng) Đậu 竇 (Phù Phong)Chương 章 (Hà Giang).

 Vân 雲  (Giang Hạ) Tô 蘇 (Võ Công) Phan 潘 (Vinh Dương) Cát 葛(Hiệt Khâu).

 Hề 奚 (Bắc Hải) Phạm 范 (Cao Bình) Bành 彭 (Lũng Tây) Lang 郎(Trung Sơn).

 Lỗ 魯 (Phù Phong) Vi 韋 (Kinh Triệu) Xương 昌(Nhữ Nam) Mã 馬(Phù Phong).

 Miêu 苗 (ĐôngDương) Phượng 鳳 (Thiệu Dương) Hoa 花 (Đông Bình)Phương 方 (Hà Nam)

 Du 俞 (Hà Gian) Nhâm 任 (Đông Lỗ) Viên 袁 (Nhữ Nam) Liễu 柳 (Hà Đông).

 Phong 酆 (Kinh Triệu) Bào 鮑 (Thượng Đãng) Sử 史 (KinhTriệu)Đường 唐 (Tấn Dương)

 Phí 費 (Giang Hạ) Liêm 廉 (Hà Đông) Sầm 岑 ( Nam Dương) Tiết 薛(Hà Đông).

 Lôi 雷 (Phùng Dực) Hạ 贺 (Quảng Bình) Nghê 倪 (Thiên Thừa) Thang湯 (Hà Đông).

 Đằng 腾 ( Nam Dương) Ân 殷 (Nhữ Nam) La 羅 (Dự Chương) Tất 畢(Hà Nam).

 Hác 郝 Thái Nguyên) Ổ 鄔 (Thái Nguyên) An 安 (Võ Lăng) Thường常 (Bình Nguyên)

 Lạc 樂 ( Nam Dương) Vu 于 (Hà Nam) Thời 時 (Lũng Tây) Phó 傅(Thanh Hà).

 Bì 皮 (Thiên Thủy) Biện 卞 (Tế Dương) Tề 齊 (Nhữ Nam) Khang 康(Kinh Triệu).

 Ngũ 伍 (An Định) Dư 余 (Hạ Bì) Nguyên 元 (Hà Nam) Bốc 卜 (Tây Hà).

 Cố 顧 (Võ Lăng) Mạnh 孟 (Bình Dương) Bình 平 (Hà Nam) Hoàng 黄(Giang Hạ).

 Hòa 咊 (Nhữ Nam) Mục 穆 (Hà Nam) Tiêu 蕭 (Lan Lăng ) Doãn 尹(Thiên Thủy).

 Diêu 姚 Ngô Hưng) Thiệu 卲 (BácLăng) Trạm 湛 (Dự Chương) Uông汪 (Bình Dương)

 Kì 祁 (Thái Nguyên) Mao 毛 (Tây Hà) Vũ 禹 (Lũng Tây) Địch 狄(Thiên Thủy).

 Mễ 米 (Kinh Triệu) Bối 貝 (Thanh Hà) Minh 明 (Ngô Hưng) Tàng 藏(Đông Hải).

 Kế 計 (Kinh Triệu) Phục 伏 (Thái Nguyên) Thành 成 (Thượng Cốc)Đái 戴 (Tiêu Quốc)

 Đàm 談 (Quảng Bình) Tống 宋 (Kinh Triệu) Mao 茅 (Đông Hải) Bàng龐 (Thỉ Bình).

 Hùng 雄 (Giang Lăng) Kỷ 紀 (Bình Dương) Thư 舒 (Kinh Triệu)Khuất 屈 (Lâm Hoài)

 Hạng 項 (Liêu Tây) Chúc 祝 (Thái Nguyên) Đổng 董 (Lũng Tây)Lương 粱 (An Định).

 Đỗ  杜 (Kinh Triệu) Nguyễn 阮 (Trần Lưu) Lam 藍 (Nhữ Nam) Mẫn閔 (Lũng Tây).

 Tịch 席 (An Định) Qúy 季 (Bộc Hải) Ma 麻 (Thượng Cốc) Cường 強(Thiên Thủy).

 Giả 賈 (Võ  Thành) Lộ 路 (Nội Hoàng) Lâu 婁 (Tiêu Quốc) Nguy 危(Nhữ Nam).

 Giang 江 (Tầm Dương) Đồng 童 (Nhạn Môn) Nhan 顏 (Đông Lỗ) Quách郭 (Phấn Dương)

 Mai 梅 (Nhữ Nam) Thịnh 盛 (Nhữ Nam) Lâm 林 (Tây Hà) Điêu 刁(Hoành Nông).

 Chung 鍾 (Dĩnh Xuyên) Từ từ 徐 (Đông Hải) Khưu 邱 (Hà Nam) Lạc駱 (Nội Hoàng).

 Cao 高 (Bộc Hải) Hạ 夏 (Hội Kê) Thái 蔡 (Tế Dương) Điền 田 (Nhạn Môn).

 Phàn 樊 (Thượng Đãng) Hồ 胡 (An Định) Lăng 凌 (Hà Gian) Hoắc 霍(Thái Nguyên).

 Ngu 麌 (Trần Lưu) Vạn 萬 (Phù Phong) Chi 支 (Khích Dương) Kha 柯(Bộc Dương).

 Qũi 昝 (Thái Nguyên) Quản 管 (Tấn Dương) Lư 盧 (Phạm Dương)Mạc 莫 (Cự Lộc).

 Kinh 經 (Vinh Dương) Phòng 房 (Thanh Hà) Cừu 裘 (Bôc Hải) Mâu繆 (Lan Lăng).

 Can 干 (Dĩnh Xuyên) Giải 解 (Bình Dương) Ưng 應 (Nhữ Nam) Tông宗 (Kinh Triệu).

 Đinh 丁 (Tế Nam) Tuyên 宣 (Thỉ Bình) Bôn 贲 (Hoạn Thành) Đặng 鄧( Nam Dương).

 Úc 郁 (Lê Dương) Đơn 單 ( Nam An) Hàng 杭 (Dư Hàng) Hồng 洪(Đôn Hoàng).

 Bao 包 (Thượng Đãng) Chư 諸 (Lang Gia) Tả 左 (Tế Dương) Thạch石 (Võ Thành).

 Thôi 催 (Lan Lăng) Cát 佶 (Phùng Dực) Nữu 鈕 (Ngô Hưng) Củng 龔(Võ Lăng).

 Trình 程 (An Định) Kê 嵇 (Tiêu Quốc) Hình 邢 (Hà Gian) Hoạt 滑(Hạ Bì).

 Bùi 裴 (Hà Đông) Lục 陸 (Hà Nam) Vinh 榮 (Thượng Cốc) Ông 翁(Giám Quan).

 Tuân 荀 (Hà Nam) Dương 羊 (Kinh Triệu) Ư 於 (Kinh Triệu) Huệ 惠(Phù Phong).

 Chân 甄 (Trung Sơn) Khúc 麴 (Nhữ Nam) Gia 嘉 (Kinh Triệu) Phong封 (Bộc Hải).

 Nhuế 芮 (Bình Nguyên) Nghệ 羿 (Tề Quận) Trừ 儲 (Hà Đông) Cận 靳(Hà Tây).

 Cấp 汲 (Thanh Hà) Bính 邴 (Bình Dương) Mê 麋 (Nhữ Nam) Tùng 松(Đông Hoang).

 Tỉnh 井 (Phù Phong) Đoạn 段 (Kinh Triệu) Phú 富 (Tề Quận) Vu 巫(Bình Dương).

 Ô 烏 (Dĩnh Xuyên) Tiêu 焦 (Trung Sơn) Ba 巴 (Cao Bình ) Cung 弓(Thái Nguyên).

 Mục 牧 (Hoành Nông) Ngụy 魏 (Dư Hoàng) Sơn 山 (Hà Nam) Cốc 谷(Thượng Cốc).

 Xa 車 (Kinh Triệu) Hầu 侯 (Thượng Cốc) Phục 宓 (Bình Xương) Bồng蓬 (Trường Lạc)

 Toàn 全 (Kinh Triệu) Si 郗 (Sơn Dương) Ban 班 (Phù Phong) Ngưỡng仰 (Nhữ Nam).

 Thu 秋 (Thiên Thủy) Trọng 仲 (Trung Sơn) Y 伊 (Trần Lưu) Cung 宮(Thái Nguyên).

 Ninh 寧 (Tề Quận) Cừu 仇 (Bình Dương) Loan 欒 (Tây Hà) Bạo 暴(Ngụy Quận).

 Cam 甘 (Bộc Hải) Châm 針(Liễu Tây) Lệ 厲 ( Nam Dương) Nhung 戎(Giang Lăng).

 Tổ 祖 (Phạm Dương) Vũ 武 (Thái Nguyên) Phù 符 (Lang Gia) Lưu 劉(Bành Thành).

 Cảnh 景 (Tấn Dương) Chiêm 詹 (Hà Gian) Thúc 束 ( Nam Dương)Long 龍 Võ Dương)

 Diệp 葉 ( Nam Dương) Hạnh 幸 (Nhạn Môn) Tư 司 (Đốn Khâu) Thiều韶 (Thái Nguyên)

 Cáo 郜 (Kinh Triệu) Lê 黎 (Kinh Triệu) Kế 薊 (Nội Hoàng) Bạc 薄(Nhạn Môn).

 Ấn 印 (Phùng Dực) Túc 宿 (Đông Bình) Bạch 白 ( Nam Dương) Hoài懷 (Hà Nội).

 Bồ 蒲 (Hà Tây) Thai 邰 (Bình Lư) Tòng 從 (Đông Hoang) Ngạc 鄂(Võ Xương).

 Sách 索 (Võ Thành) Hàm 咸 (Nhữ Nam) Tịch 籍 郦Quảng Bình) Lại赉 (Dĩnh Xuyên).

 Trác 卓 (Tây Hà) Lận 藺 (Trung Sơn) Đồ 屠 (Trần Lưu) Mông 蒙 (An Định).

 Trì 池 (Tây Hà) Kiều 喬 (Lương Quận) Âm 陰 (Thỉ Hưng) Uất 鬱(Thái Nguyên).

 Tư 胥 (Lang Gia) Năng 能 (Thái Nguyên) Thương 蒼 (Võ Lăng) Song雙 (Thiên Thủy).

 Văn 聞 (Ngô Hưng) Tân 莘 (Thiên Thủy) Đảng 黨 (Phùng Dực) Trạch翟 ( Nam Dương)

 Đàm 譚 (Tề Quận) Cống 貢 (Quảng Bình) Lao 劳 (Quế Dương) Phùng逢 (Tiếu Quận)

 Cơ 姬 ( Nam Dương) Thân 申 (Lang Gia) Phù 扶 (Kinh Triệu) Đổ 堵(Hà Đông).

 Nhiễm 冉 (Võ Lăng) Tể 宰 (Tây Hà) Lịch 郦 (Tân Thái) Ung 雍 (Kinh Triệu).

 Khước 卻 (Tế Dương) Cừ 璩 (Dự Chương) Tang 桑 (Lê Dương) Quế桂 (Thiên Thủy).

 Bộc 濮 (Lỗ Quận) Ngưu 牛 (Lũng Tây) Thọ 壽 (Kinh Triệu) Thông 通(Tây Hà).

 Biên 邊 (Lũng Tây) Hỗ 扈 (Kinh Triệu) Yến 燕 (Phạm Dương) Ký 冀(Bộc Hải).

 Giáp 郲 (Võ Lăng) Phổ 浦 (Kinh Triệu) Thượng 尙 (ThượngĐãng)Nông 農 (Nhạn Môn)

 Ôn 温 (Thái Nguyên) Biệt 別 (Kinh Triệu) Trang 莊 (Thiên Thủy) Yến晏 (Tề Quận).

 Sài 柴 (Bình Dương) Cù 瞿 (TùngDương) Diêm 閻 (TháiNguyên) Sung充 (Thái Nguyên)

 Mộ 慕 (Đôn Hoàng) Liên 連 (ThượngĐãng) Như 茹 (Hà Nội) Tập 習(Đông Dương).

 Hoạn 宦(Đông Dương) Ngải 艾 (Thiên Thủy) Ngư 魚 (NhạnMôn)Dung 容 (Đôn Hoàng)

 Hướng 向 (Hà Nam) Cổ 古 (Tân An) Dịch 易 (Thái Nguyên) Thận 愼(Thiên Thủy).

 Qua 戈 (Lâm Hải) Liêu 寥 (Nhữ Nam) Du 庾 (Tế Nam) Chung 終 (Nam Dương).

 Ký 暨 (Bộc Hải) Cư 居 (Bộc Hải) Hành 衡  (Nhạn Môn) Bộ 步 (Bình Dương).

 Đô 都 (Lê Dương) Cảnh 耿 (Cao Dương) Mãn 滿 (Hà Đông) Hoằng弘 (Thái Nguyên).

 Khuông 匡 (Tấn Dương) Quốc 國 (Hạ Bì) Văn 文 (Nhạn Môn ) Khấu宼 (Thượng Cốc).

 Quảng 廣 (Đơn Dương) Lộc 禄 (Phù Phong) Khuyết 闕 (Hạ Bì) Đông東 (Bình Nguyên).

 Ấu 殴 (Bình Dương) Thù 殳 (Võ Công) Ốc 沃 (Thái Nguyên ) Lợi 利(Hà Nam).

 Uý 蔚 (Lang Gia) Việt 越 (Tấn Dương) Quỳ 夔 (Kinh Triệu) Long 隆( Nam Dương).

 Sư 師 (Thái Nguyên) Củng 鞏 (SơnDương) Khố 庫 (Quát Thương)Nhiếp 聶 (Hà Đông).

 Triều 晁 (Kinh Triệu) Câu 勾 (BìnhDương) Ngao 敖 (Tiêu Quận)Dung 融 ( Nam Khang).

 Lãnh 冷 (Kinh Triệu) Ti 訾 (Bộc Hải) Tân 辛 (Lũng Tây) Khám 闞(Thiên Thủy).

 Na 那 (Thiên Thủy) Giản 簡 (PhạmDương) Nhiêu 饒 (BìnhDương) Không空 (KhổngKhâu).

 Tăng  曾 (Lỗ Quận) Vô 毋 (Cự Lộc) Sa 沙 (Nhữ Nam) Khiết 乜 (Tấn Xương).

 Dưỡng 養 (Sơn Dương) Cúc 鞠 (Nhữ Nam ) Tu 須 (Bộc Hải) Phong豐 (Tùng Dương).

 Sào 巢 (Bành Thành) Quan 關 (Lũng Tây ) Khoái 蒯 (Nông Dương)Tướng 相 (Tây Hà).

 Tra 查 (Tề Quận) Hậu 後 (Đông Hải) Kinh 荆 (Quảng Lăng) Hồng 紅(Bình Xương).

 Du 游 (Quảng Bình) Trúc 竺 (Đông Hải) Quyền 權 (Thiên Thủy) Lộc逯 (Quảng Bình).

 Cái 蓋 (Nhữ Nam) Ích 益 (Phùng Dực) Hoàn 桓 (Tiêu Quận) Công 公(Quát Dương).

 Mặc Sĩ 万 俟 (Lan Lăng) Tư Mã 司馬 (Hà Nội).

 Thượng Quan 上官 (Thiên Thủy) Âu Dương 歐 陽 (Bộc Hải).

 Hạ Hầu 夏 侯 (Tiêu Quận) Chư Cát 諸 葛 (Lang Gia).

 Văn Nhân 聞人 (Hà Nam) Đông Phương 東 方 (Bình Nguyên) .

 Hách Liên 赫 連 (Bộc Hải) Hoàng Phủ 皇 甫 (Kinh Triệu).

 Uý Trì 尉 遲 (Thái Nguyên) Công Dương 公 羊 (Đốn Khâu).

 Đạm Đài 澹 臺 (Thái Nguyên) Công Dã 公 冶 (Lỗ Quân).

 Tông Chánh 宗 政 (Bành Thành) Bộc Dương 濮 陽 (Bác Lăng).

 Thuần Vu 淳 于 (Hà Nội) Thiền Vu 單 于 (Thiên Thừa).

 Thái Thúc 太 叔 (Đông Bình) Thân Đồ 申 屠 (Kinh Triệu).

 Công Tôn 公 孫 (Cao Dương) Trọng Tôn 仲 孫 (Cao Dương).

 Hiên Viên 軒 轅 (Cáp Dương) Lệnh Hồ 令 狐 (Thái Nguyên) .

 Chung Ly 鍾 離 (Hội Kê)  Vũ Văn 宇 文 (Triệu Quận).

 Trường Tôn 長 孫 (Tế Dương) Mộ Dung 慕 容 (Đôn Hoàng).

 Tiên vu 鲜 于 (Ngư Dương) Lư Khâu 閭 丘 ( Đôn hoàng).

 Tư Đồ 司 徒 (Triệu Quận) Tư Không 司 空 (Đốn Khâu).

 Kỳ Quan 亓 官 (Khổng Tử mẫu) Tư Khấu 司 寇 (Bình Xương).

 Chưởng Đốc 仉 督 (Mạnh Tử mẫu) Tử Xa 子 車 (Thiên Thủy).

 Chuyên Tôn 颛 孫 (Đơn Dương) Đoan Mộc 端 木 (Lỗ Quận).

 Vu Mã 巫 馬 (Ngư Phụ) Công Tây 公 西 (Đốn Khâu).

 Tất Điêu 漆 雕 (Thái Quận) Nhạc Chánh 樂 正 (Thiên Thủy).

 Nhưỡng Tứ 壤 駟 (Tần Quận) Công Lương 公 良 (Đông Quốc).

 Thác Bạt 拓 拔 (Dĩnh Xuyên) Giáp Cốc 夾 谷 (Phủ Thành).

 Tể Phụ 宰父 (Lỗ Quận) Cốc Lương 穀 梁 (Hạ Quận).

 Tấn 晉 (Bình Dương) Sở 楚 (Giang Lăng) Diêm 閆 (Thái Nguyên) Pháp 法 (Phù Phong).

   Nhữ 汝 (Thiên Thủy) Yên 鄢 (Phạm Dương) Đồ 涂 (Dự Chương) Khâm 欽 (Hà Giang).

 Đoạn Can 段 干 (Kinh Triệu) Bách Lý 百 里 (Thái Quận).

 Đông Quách 東 郭 (Tế Nam) Nam Môn 南 門 (Hà Nam).

 Hô Diên 呼 延 (Thái Nguyên) Quy 歸 (Kinh Triệu) Hải 海 (Tiết Quận).

 Dương Thiệt 羊 舌 (Kinh Triệu) Vi Sinh 微 生 (Tấn Quận).

 Nhạc 岳 (Sơn Dương) Soái 帅 (Thanh Quận) Câu 緱 (TháiNguyên)Kháng 亢 (Thái Nguyên).

 Huống 況 (Hậu Giang) Hậu 后 (Đông Hải ) Hữu 有 (Đông Hải) Cầm琴 ( Nam Quốc).

 Lương Khâu 梁 丘 (Phùng Dực) Tả Khâu 左 丘 (Tế Quận).

 Đông Môn 東 門 (Tế Dương) Tây Môn 西 門 (Lương Quốc).

 Thương 商 (Nhữ Nam) Mâu 牟 (Bình Dương) Dư 余 (Tân Trịnh) Nhĩ珥 (Cổ Chân).

 Bá 伯 (Lỗ Quận) Thưởng 賞 (Ngô Quận) Nam Cung 南 宮 (Đông Lỗ).

    Mặc 墨 (Lương Quận) Cáp 哈 (Trường Cát) Tiếu 譙 (Kinh Triệu)Đát 笪 (Kiến Bình).

 Niên 年 (Hoài Viễn) Ái 愛 (Tây Hà) Dương 陽 (Lũng Tây) Đồng 佟(Liêu Đông).

 Đệ Ngũ 弟五 (Lũng Tây) Ngôn 言 (Nhữ Nam) Phúc 福 (Bá Tế).

 Bách 百 督( Nam Dương) Gia 家 (Kinh Triệu) Tính 姓 (Lâm Quận)Tục 續 (Hạ Môn)

 Đối với người Trung Quốc, cái Họ từ những ngày xa xưa đã có một vị trí và chức năng quan trọng đối với con người và xã hội; người ta đã căn cứ vào Họ để phân biệt dòng tộc và từ đó tạo ra những mối quan hệ tốt đẹp giữa người này với người khác giữa họ này với họ khác; cái họ còn góp phần lớn trong việc tạo dựng xóm làng, xây dựng tình đoàn kết trong các tổ chức của con người để phục vụ lao động sản xuất và để chống ngoại xâm bảo vệ quê hương. Việc xác định họ hàng trong các triều đại phong kiến cũng rất quan trọng - nhờ vào đó để làm căn cứ truyền thừa, phong chức, phong tước và hình thành các thiết chế của triều chính.

 Khổng Tử nói “Vạn vật gốc ở trời, con người gốc ở tổ” (Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ - Lễ ký). Một trong những cái đẹp của con người là nhớ về cội nguồn, nhờ có họ người ta mới biết đến tổ tiên, để từ đó thể hiện lòng hiếu thảo bằng các hình thức tế lễ tôn nghiêm mang nhiều đặc trưng văn hóa.

 Bởi cái họ có nhiều chức năng quan trọng lại rất phù hợp với tâm lý người phương Đông, nên chẳng bao lâu đã lan tràn gần như đều khắp các nước trong khu vực dùng chữ Hán như Đại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Việt Nam là một nước láng giềng gần gũi với Trung Quốc, vã lại trong quá khứ đã có nhiều lần giao lưu văn hóa với nhau nên giữa họ của người Việt Nam và họ của người Trung Quốc đã có những mối quan hệ rất đặc biệt. Trong tác phẩm Họ và Tên người Việt Nam, tác giả Lê Trung Hoa đã nói “Một số các họ của người Kinh có nguồn gốc Trung Quốc như Lý, Vương, Trương, Lê, Đỗ, Võ (Vũ)... Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc và tiếp tục sau đó, nhiều quan lại và thường dân Trung Quốc đã sang định cư ở nước ta, rồi sanh con để cháu, dần dần trở thành người Việt” và trong nhiều cuộc điều tra khảo sát gần đây của các nhà khoa học - của các cơ quan chức năng cũng đã xác định Việt Nam có nhiều họ có nguồn gốc Trung Quốc. Nhưng trong thực tế ở Việt Nam cũng có một số trường hợp chỉ bắt chước theo cách của người Trung Quốc để đặt họ, thí dụ như :

 - Một số lớn người Việt Nam gốc Khmer ở vùng Châu Đốc vào thời Nguyễn đã lấy chữ đầu của tên địa phương làm họ, sau đó những người này đi sinh sống ở các nơi, nên hiện nay có rất nhiều người ở các tỉnh phía Nam nước ta mang họ Châu trong trường hợp này.

 - Theo lời kể của con cháu dòng họ Hầu ở Bạc Liêu thì ông tổ nhiều đời của họ vốn là họ Trương nhưng do hoàn cảnh phải lánh nạn vì chiến tranh nên đã dùng chữ lót là Hầu để làm họ, vì vậy con cháu ngày nay mang họ Hầu.

 - Nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh - tác giả nhiều bộ từ điển Anh Việt, Hán Việt lớn ở Việt Nam có lần tâm sự, anh vốn họ Trầm nhưng không rõ các đời trước khi chuyển sang chữ quốc ngữ, hộ tịch ghi sai thế nào lại thành họ Trần, nay con cháu đều mang họ Trần.

 Như vậy các họ Châu, Hầu, Trần vừa kể tuy cũng đồng âm với các họ Châu, Hầu, Trần ở Trung Quốc nhưng không có nguồn gốc Trung Quốc - không phải họ Châu ở Nhữ Nam, họ Hầu ở Thượng Cốc, họ Trần ở Dĩnh Xuyên, mà các họ này đều đã ra đời tại Việt Nam. Trên thực tế đã chứng minh họ của người Trung Quốc đã du nhập sang Việt Nam và các nước khác bằng con đường di dân, xâm lược, truyền đạo... nhưng cũng có một số lớn như các trường hợp vừa kể, chỉ ảnh hưởng cách đặt họ của người Trung Quốc. Do đó có một số họ tuy cũng đồng âm với họ Trung Quốc nhưng trên thực tế không có nguồn gốc Trung Quốc.

                                 Nguồn :  "Thư viện mở Wikipidia Tiếng Việt"

 

 

 


Khách trực tuyến

Hiện có 88 khách, 0 thành viên online