Duy : Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tuế thứ Ất Mùi niên, sơ nhị ngoạt, sơ nhị nhật. Quảng Nam tỉnh, Duy Xuyên huyện, Nam Phước thị trấn, Xuyên Tây xã, Mỹ Quang ấp, Cồn Đô Bàu Đô xứ.

 

Trần Văn Tộc Xuyên Tây đồng hiệp ủy :

- Thập tam thế Tự tôn TRẦN VĂN KIM – Chánh bái 

- Tả phân hiến Thập nhị thế Trần Văn Châu  

- Hữu phân hiến Thập nhị thế : Trần Văn Hai

Hiệp bổn tộc sanh nhơn nam nữ; tử tôn; hôn tế nội ngoại đại tiểu đẳng. Tư nhơn Khánh hạ từ đường, cẩn dĩ hương đăng, hoa quả, kim ngân, sanh tư bàn soạn, phù lang tửu, thanh chước thứ phẩm chi nghi.

Cảm cáo vu : (được hiểu như là phần "kính thưa" hoặc "giới thiệu" các người dự)

Thượng Thượng niệm :

          Thượng Thượng niệm : Phụng vị bổn âm đường Dĩnh Xuyên quận Thái Thái... Thủy Tổ TRẦN  VĂN TỘC lịch đại tiền quá vãng chư Thần vị.

Thượng niệm :

          - Hiển Thủy Tổ Hậu Hiền khai cơ sáng nghiệp Mỹ Xuyên Tây : Trần Công húy Nga đại lan chi Thần.                    

- Triệu Thủy Tổ Tỉ chi chánh vị

- Hiển Tiên Tiên Tổ khảo, tỉ thần vị

- Tiên Tiên Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Tiên Tổ khảo, tỉ thần vị

- Tiên Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Cao Cao Tổ khảo, tỉ thần vị

- Cao Cao Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Cao tổ khảo, tỉ thần vị

- Cao tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Tằng tổ khảo, tỉ thần vị

- Tằng tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Tổ khảo, tỉ thần vị

- Tổ bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Hiển Khảo, Tỉ thần vị

- Tùng bá, thúc, cô chư tiên linh liệt vị

- Huynh, đệ, tỷ, muội thúc bá đồng đường chư tiên linh liệt vị.

- Đệ dẫn : Vong linh tử, tôn ; vô tự tùng tự, hữu danh vô vị hữu vị vô danh, sút sảo tảo vong sa lạc bất tường, hương hồn, thanh hồn đồng liệt vị

Cập thập tam, thập tứ, thập ngũ thế huynh, đệ, tỷ, muội đồng đường, đồng thân chư hương linh.

- Đệ dẫn Vong linh tử, tôn hôn điệt; vô tự tùng tự, hữu danh vô vị hữu vị vô danh, đẵng đẵng chư hương linh liệt vị.

Viết cung duy Tiên Tổ : (Đây là phần "Hậu ngữ Nho")

Nhân sanh hồ Tổ, vật bổn hồ Thiên. Mộc hữu sở bổn, thủy sở hữu sởnguyên. Ngưỡng triệu bồi như tăng niệm bách thế bất thiên. Mông võ lộ nhi trung, tư vạn đại như kiến. Tư nhơn tiết thuộc Xuân thiên, khánh thành đại hỷ, bổn Tộc cẩn dụng lễ nghi Tam Tuần hiến tế chư Tiên linh tại tân cơ Từ đường Trần Văn Tộc. Nguyện kì giám cách tích dĩ bình yên. 

Ngưỡng lại phò trì chi gia huệ dã!

Rằng kính dâng các đấng Tổ Tiên :  (Từ đây trở xuống là phần "Hậu ngữ Nôm", là phần con cháu về dự hiểu được nội dung nên thường chăm chú lắng nghe hơn. Do đó phần này phải viết bằng nhiều kĩ thuật viết lách...)

Sông suối có nguồn, làm người ai cũng có Tiên Tổ. Non cao bể thẳm ngậm ngùi hai chữ triệu bồi. Xuân lại thu qua cảm khái một câu sương lộ.

Tổ Tiên ta xưa : Từ đất Bắc vạn năm phát tích, đầu thế kỉ 15 di cư Nam tiến lập nghiệp ở làng mới Mỹ Xuyên Tây.

Thăm thẳm móng hường in dấu, khai cơ lập thổ, công tài bồi xây dựng từ triều Lê.

Kì vĩ thay chân cứng đá mềm, trải bao phen phong ba bão táp, thương hải tang điền.

Nghĩ câu “Phúc đức vun trồng, cành lá sum suê nhờ cội cả / Nghĩa nhân gìn giữ, sông hồ dài rộng bởi nguồn sâu”.

Đây trời Nam một dải phân lưu, xây dựng nền nhân, sông Thu Thủy an vui lạc thổ.

Mỹ Xuyên cố quận đề vinh, giấy cũ mực xưa tàng thư viện ghi tên trường bác cổ. Bộ vàng ghi chép cũng đồng thời quý tộc Hậu hiền.

Khoa danh sự nghiệp đầy sân rực rỡ bóng vương hòe. Phú quý phong lưu, trước cửa sum vầy cây tạ thọ.

Miếu mộ trang nghiêm tế tự huy hoàng trong thế phổ. Cửa Thánh hiền rực vẻ hiếu trung, nghề thầy thợ rành tay mực thước.

Mở tiểu sử Tiên linh ôn lại, lập công lập đức đất Xuyên Tây vằng vặc để muôn đời.

Đem Tông đồ phổ hệ soi chung, phái Nhất, phái Nhì, phái Ba, phái Tư, dấu lộ quốc y hy tên Liệt Tổ. Chín suối tuy rằng xa cách, mảnh âm dương tưởng tượng chốn canh tường.

Dù Quảng Huế, Phú Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Nội, Sài Gòn, Á, Âu, Mỹ, Úc... cũng chung cùng Quê Cha Đất Tổ Trần Văn Tộc làng Mỹ Xuyên Tây.

Nhớ chữ “Hải đức sơn công”, “Đức Tổ khai cơ lưu hậu thế”, hậu sinh một dạ kính thành dốc lòng báo bổ, “nền xưa tái tạo niệm Tiền Nhân”.

Hôm nay tiết thuộc Xuân thiên, nhằm mùng Hai tháng Hai Ất Mùi kim niên, Gia Tộc dụng nghi Tam Tuần trang nghiêm Tế lễ Khánh thành, kính cẩn dâng lên Tổ Tiên ngôi từ đường mới Uy Nghiêm, Ấm Mát :

Tám góc mái vút cao ! Long Lân Quy Phụng đủ đầy !

Nghi môn/ Hương Đỉnh/ Sư Rồng

 Gia Huy/ Long Mã/ Bình Phong/ Khóm Thờ/

Miếu Thần/ Cửa Gõ/ Ngói Hài

Thư Họa/ Đá Mài/ Câu Đối/ Hoành Phi...

Kính dâng lên Tiên linh hương đăng trà tửu, sanh tư bàn soạn, lễ mọn lòng thành, gợi nhớ thâm ân chín chữ cù lao, khai cơ truyền kế.

Khắc ghi câu : “Khuyên dặn cháu con, nền móng tốt tươi, không chuyển đổi / Chí xưa thành tựu, rạng ngời thế đức, mãi thơm danh”

Tâm niệm : “Trên : không phụ ơn khai cơ của Tiên Tổ” / Dưới: nêu gương cho con cháu noi theo” ; “Tổ củng tôn bồi” truyền thống “Trung hậu, Hiếu học”. 

Ngưỡng mong Tổ Tiên hiển linh chứng giám tâm thành. Trăm lạy kính xin gia hộ cho chú bác, anh em, nội ngoại cháu con ở mọi miền được an khương, thành đạt.

   “Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ

Đức Tổ Tông muôn thưở sáng ngời

Ngẩng trông: phúc ấm nối đời

Tế thần, Thần tại về nơi Từ đường

Để con cháu lửa hương phụng sự

Nghìn năm sau : Xuân Tự, Thu Thường”

Phục duy cẩn cáo./.

                                                                                                                  (Người viết : Trần Văn Hảo)

Ghi chú : a) Phần "Kính thưa" và phần "Hậu ngữ Nho" thì dựa theo nội dung đĩa ghi âm khánh thành Nhà thờ Tộc ta năm 1992 ; còn phần "Hậu ngữ Nôm" thì có cổ có tân cho phù hợp ngôi từ đường mới xây lại năm 2014 và khánh thành tháng 3/2015

b) Văn thư TVH sẽ viết một số câu "Hỏi - Đáp (Phần 3)" về thể thức, nội dung và ý nghĩa một số từ ngữ trong bài văn tế như trên.

 


Khách trực tuyến

Hiện có 60 khách, 0 thành viên online