Sau khi nhận được thư đề ngày 22/10/2014 của Ô.Trần Thạnh nêu ý kiến về việc tên gọi của Tộc và các chữ trên cổng Nhà Thờ Tộc, nhận thấy đây là phản ảnh có trách nhiệm của con cháu trong Tộc, cần được xem xét cẩn thận và thấu đáo, Hội Đồng Gia Tộc đã mời các thành viên trong HĐGT đến dự họp vào sáng 26/10/2014 tại nhà Ô.Trần Nam, gần Nhà Thờ Tộc (Duy Xuyên-Quảng Nam).

Các thành viên HĐGT đã tìm hiểu vấn đề cặn kẽ, phân tích đầy đủ lý-tình, kết quả đã đi đến kết luận là "không thay đổi".

Xin mời quí bà con xem kết luận của HĐGT về các vấn đề này

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

HỘI ĐỒNG GIA TỘC                              Xuyên Tây, ngày 26 tháng 10  năm 2014

   TỘC TRẦN VĂN                                  

 

KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG GIA TỘC TRẦN VĂN VỀ TÊN CỦA TỘC VÀ CÁC CHỮ NHO SẼ GHI Ở NHÀ THỜ TỘC

Hôm nay, ngày 26/10/2014, tại nhà ông Trần Nam ở cạnh Nhà thờ mới của Tộc, Hội đồng gia Tộc Trần Văn - Xuyên Tây đã họp bàn các vấn đề như đã nêu trong Thư mời họp ngày 22/10/2014 và 6 vấn đề cấp thiết khác liên quan đến Nhà thờ Tộc mới.

Thành phần dự họp : Có đầy đủ đại diện Hội đồng gia tộc (HĐGT), Ban Cố Vấn, Ban Vận động – Xây dựng cùng Trưởng các Phái, Chi, Nhánh trong Tộc Trần Văn – Xuyên Tây, tất cả là 30 người. Anh Trần Tạm ở Phái Nhì là Thư kí hành chính kiêm Kế toán của Ban Xây dựng Nhà thờ làm Thư kí của cuộc họp.

Riêng về nội dung liên quan đến chữ Nho trong Nhà thờ mới, Trưởng tộc Trần Văn Kim ủy quyền cho Thư kí văn từ (Trần Văn Hảo) và Thư kí hành chính (Trần Tạm) đánh vi tính để trình Trưởng Tộc xem lại, kí khóa, đóng dấu vào rồi mới được gửi cho bà con trong Gia Tộc và gửi qua >30 email.

Bà con đang xem thư của Ô.Trần Thạnh gửi cho HĐGT

Trước khi đến dự họp, ai cũng đã nghiên cứu các trang tổng hợp ý kiến do HĐGT tổng hợp nội dung email để gởi kèm thư mời (22/10/2014) và hôm nay xem thêm lá thư anh Trần Thạnh mới gửi riêng cho Hội đồng gia Tộc.

Bà con ta trân trọng ghi nhận các ý kiến thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự tinh tế trong nhận xét của Ô. Trần Thạnh, cụ thể là dù ở phương xa, chỉ nhìn qua tấm hình chụp chung Nhà thờ Tộc (cũ) nhưng anh đã phát hiện chữ “sở” 所 có nét phẩy bị phai mờ, trông giống như chữ “chước” 斫; đồng thời phát hiện và phân tích một cách tường minh, có tính thuyết phục về các chi tiết “Trần cự Tộc” và “Cung lục Trần Tộc phú ý tự” trong gia phả gốc của Tộc ta để từ đó anh đề nghị nên bỏ chữ “Văn” trong cụm từ “Trần Văn Tộc” hoặc “Tộc Trần Văn”, chỉ nên ghi là “Tộc Trần” hoặc “Trần Tộc”. Đồng thời ghi nhận các ý kiến của một số bà con khác quanh các vấn đề nêu trên.  

Chữ có nét phẩy bị phai mờ 

Trang bìa và trang 1 của Gia phả Tộc   

Sau khi thảo luận, xem Gia phả gốc của mỗi Phái, liên hệ thực tiễn kiến trúc tín ngưỡng ở địa phương, ý kiến thống nhất của cuộc họp như sau :

1) Về chữ Nho trên cổng :

a) Hầu hết các công trình kiến trúc tín ngưỡng ở địa phương ta đều ghi chữ “từ môn” hoặc “từ sở” trên bảng hiệu cổng. (Xin lưu ý tín ngưỡng và tôn giáo là hai lĩnh vực khác nhau, ở đây chúng ta chỉ bàn đến kiến trúc tín ngưỡng chứ không so sánh với tôn giáo hay với công sở nhà nước. Xin xem thêm bài “Sự giống nhau và khác nhau giữa tôn giáo với tín ngưỡng, giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan và mối quan hệ giữa chúng” ở trên mạng internet.

b) Theo các danh Nho, ngày xưa các công trình lớn hoặc công trình của nhiều tộc họ thì mới dùng chữ “môn” như Lý môn (cổng làng), Cổng Ngọ Môn (Kinh thành Huế, bên trong có nhiều công trình kiến trúc khác nhau), (Khải Hoàn Môn, Thiên An Môn, Thụ Hàng Môn) ; cổng Nhà thờ Ngũ xã (thờ Tiền Hiền của 50 Tộc của 5 xã, ở Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam), hoặc Tộc nào có sắc phong Tiền Hiền của Vua thì cổng nhà thờ tộc đó mới có chữ “môn”, còn Nhà thờ của một Tộc bình thường thì ghi chữ “Sở”. Đó là quan niệm ngày xưa.  

Tuy viết bằng chữ quốc ngữ nhưng “Huỳnh Văn Tộc từ sở” đã có từ thập niên 1960 ; còn Nhà thờ Công giáo Trà Kiệu (Duy Xuyên) – một nhà thờ có tầm ảnh hưởng lớn cả miền Trung Việt Nam, đã ghi chữ “sở” (Địa Sở Trà Kiệu) từ đầu thế kỉ trước đến nay.

Trong các từ điển Hán Việt đã xem, (Hán Việt Tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng; Hán Việt tự điển, Thiều Chửu, Hà Nội, 1942 ; Đại Từ điển Hán Việt trực tuyến...) chúng tôi không thấy từ “tiện sở” như trong thư..., có lẽ đó chỉ là một “danh ngữ” do ai mới lắp ghép. Tiếng Sở mà chúng ta đang bàn là 所 sở (vd: Địa sở TràKiệu...)chứ không phải楚 sở,礎 sởhay chữ Sở đồng âm dị tự nào khác...

        c) Vì sao không nên viết “từ đường” ngoài cổng ?

Đình Tiền Hiền ở ngay tại Xuyên Tây quê ta, trên bảng hiệu cổng là các chữ : “Tiền Hiền Mỹ Xuyên Tây từ môn (đọc từ phải qua trái) - nhưng bà con có thấy chữ “môn” (ở trên mũi tên màu đỏ) đã bị mờ đi không? Vì sao vậy ?

Là vì lúc xây dựng (2004) ghi nhầm là chữ “đường”堂, nhưng trong ngày khánh thành, các nhân sĩ, trí thức đáng kính trong làng và ở TPHCM về cho là ngoài cổng của kiến trúc tín ngưỡng mà ghi chữ “đường” là sai và yêu cầu đục chữ “đường” để đắp lại thành chữ “môn”門, cho nên màu sắc chữ “門” mới đắp không tiệp với màu các chữ khác trước đó. Tộc ta có ông Trần Bưởi và Trần Châu ở trong Ban xây dựng Đình Tiền Hiền này (2004), cũng xác nhận điều đó ngay trong buổi họp sáng nay.

Chữ “đường” đã bị đục đi và đắp chữ “môn” thay vào nên chữ “môn” hơi khác màu. Đình này chỉ cách Nhà thờ Tộc ta 500m, họ đã đục bỏ chữ “đường” nên ta cũng không nên ghi “từ đường” ngoài cổng.

Từ các ý a,b & c nêu trên, HĐGT cho rằng lớp người xây Nhà thờ 1992 đã có sự cân nhắc kĩ nên bây giờ ta vẫn nên giữ lại cụm từ “Trần Văn Tộc từ sở” trên cổng của Nhà thờ mới (sẽ ghi bằng kiểu chữ “phồn thể” 所祠族文陳 theo như gợi ý của anh Trần Thạnh)

        2) Về vấn đề tên Tộc là Tộc Trần hay Tộc Trần Văn?

Các đại biểu dự họp có các ý kiến sau :

a) Lâu nay, HĐGT rất muốn tìm về cội nguồn của dòng tộc ta ở miền Bắc là nơi nào, có phải là lảng cổ Mỹ Xuyên ở Thanh Hóa như trong bài “Khái quát về Tộc Trần Văn Xuyên Tây” có đăng trên Website Tộc ta, nhưng chưa có điều kiện tìm về đất Tổ ngoài Bắc, bà con ta rất lấy làm ái tuất. Đồng thời nếu kết nối được Gia phả của Tộc ta với Gia phả gốc ở miền Bắc trước khi vào Nam thì sẽ làm sáng tỏ ra nhiều vấn đề. Việc này HĐGT xin gửi gắm cho các anh em có điều kiện nghiên cứu và giao du để tìm giúp cho Gia Tộc.

b) Giải thích của anh Trần Thạnh về chữ “Công” và chữ “húy” 諱đã giúp nhiều người hiểu ra rằng đó không phải là chữ lót mà là tiếng để “tôn xưng người đã khuất”, thay cho các chữ lót khác nhau hoặc không có chữ lót. Trong Gia phả gốc của Tộc, từ đời 1 đến đời 8 tính ra hơn 200 năm, có ghi tên 140 người NAM đều đã được thay các chữ lót khác nhau bằng chữ “Công” để tôn xưng.

Trong 140 người NAM đó, chữ lót thật của họ gồm những chữ nào, và chữ nào là chữ lót chủ yếu? Việc này “nan phân thuyết” vì chỉ tư biện (suy nghĩ rồi nói ra) chứ chưa có tư liệu nào có tính thuyết phục.

c) Ở Việt Nam, khi lập Nhà thờ chung của cả Tộc trên địa bàn huyện, tỉnh hoặc cả nước thì người ta mới ghi chung là “Nhà thờ Tộc X” hoặc “X Tộc từ đường”, ví dụ ở huyện Điện Bàn có Nhà thờ Tộc Nguyễn, chung cho hàng trăm Chi Nhánh tộc Nguyễn có chữ lót khác nhau trong huyện. Huyện Đại Lộc đã tổ chức đại hội Tộc Trần vào năm 2013 cho hàng trăm Chi Nhánh Trần Phúc, Trần Duy, Trần Quang, Trần Văn... ở Đại Lộc, trong đó có đại biểu Phái Tư của Tộc Trần Văn chúng ta định cư ở Đại Lộc đến tham dự.

d) HĐGT đang liên hệ Ban Chấp hành họ Trần Việt Nam (This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. ) và Ban chấp hành họ Trần tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (trụ sở tại số nhà 117 - Lê Độ - Đà Nẵng. Email:
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  - Số tel 0913402041, 05113647529, 0902513903) để tham vấn thêm thông tin. Anh Trần Hòe (số tel 0986805925) đã đến liên hệ nhưng BCH đang đi về các huyện.

e) Ở địa phương làng Xuyên Tây cũ cũng có nhiều tộc Trần, ví dụ : Tộc TRẦN ĐỨC có nhà thờ tộc ở xóm Mỹ Thành và Tộc Trần Văn ở xóm Thuận Tây thuộc làng Xuyên Tây cũ ;

Trong vòng bán kính 1km của 2 làng Xuyên Tây và Châu Hiệp hiện đang có 8 Nhà thờ Tộc Trần là Trần Văn Xuyên Tây, Trần Văn Thuận Tây (trong làng Xuyên Tây), Trần Văn Châu Hiệp, Trần Viết, Trần Phước, Trần Hữu, Trần Tấn, Trần Đức. Ngoài ra còn một số gia đình mang tộc Trần mới nhập cư, rồi sẽ xây nhà thờ riêng...

Vô hình trung, trong tâm thức người trong Tộc ta và người của “chư Tộc” ở địa phương ta, Tộc ta là “Tộc Trần Văn”, chữ “Văn” không còn đơn thuần là chữ lót để phân biệt nam/nữ, không còn là “việc riêng” của mỗi gia đình nữa mà là một từ ghép không thể tách rời nhau “Trần Văn”, cũng như các tộc Trần còn lại ở địa phương ta có lẽ sẽ vẫn là Trần Viết, Trần Phước, Trần Hữu, Trần Tấn, Trần Đức...

g) Ngày 23/10/2014, ông Trần Như Sung, Phái Nhì, đời thứ 12, nguyên là Trưởng Tộc giai đoạn 1976-2010 cho rằng : Từ xưa đến nay, ngoài quyển Gia phả của Tộc, thì mỗi Phái cũng có quyển gia phả của riêng Phái mình, vừa sao chép lại Gia phả gốc của Tộc rồi biên tiếp từ đời thứ 7 về sau.

Ông Trần Như Sung đề nghị các Phái mang theo quyển gia phả xưa nhất của Phái (hoặc Chi) đến dự họp, để “trọng chứng hơn trọng cung” chứ không thể căn cứ vào sự đồng thuận của số đông để quyết định vấn đề chữ “VĂN”.

Theo tinh thần đó, sáng nay các Phái Nhì, Ba và Tư đã thỉnh Gia phả Phái mang theo. Trước sự chứng kiến của các thành viên dự họp, ai cũng xác nhận chữ “Văn”  đã ở trong Gia phả các Phái từ đời thứ 6-7-8 về sau. Các quyển đó toàn chữ Nho trên giấy thủ công ngày xưa, và người viết chữ Nho đó đã qua đời lâu lắm rồi.

Một trang trong quyển Gia phả của Phái Nhì sao chép từ Gia Phả Tộc vào năm Quý Dậu 1933 và biên tiếp các đời sau. Chữ “Văn (trong các vòng màu vàng) có từ đời thứ 8 về sau


Hình trên : Ông Trần Ba, Phái Tư, đời thứ 12, cầm quyển Gia phả tàng thư toàn chữ Nho, trong đó đời thứ 5 (trang bên tay trái ông Trần Ba) ghi là “Trần Công ”, còn từ đời thứ 6 về sau thì ghi là “Trần Văn ”. Quyển này được ghi cách đây “lâu lắm rồi”.

Ông Trần Niên, Phái Ba, đời thứ 12, thỉnh Gia phả Phái Ba (toàn chữ Nho), trong đó từ đời thứ 5 (4 cột dọc bên tay trái ông Trần Niên) ghi là “Trần Công”, còn từ đời thứ 6 về sau thì ghi là “Trần Văn ”. Quyển này được ghi vào năm “Hoàng Triều Bảo Đại Quý Dậu niên”, tính ra là năm 1933.

Có lẽ vào năm 1933, Tộc ta đã tổ chức 4 Phái cùng sao chép Gia phả Tộc để tục biên thêm từng phái. Riêng Phái Nhất chỉ còn một dân đinh đang lưu lạc đâu đó ở miền Bắc, 35 năm qua không ai về Xuyên Tây nên không có quyển Gia phả Phái Nhất.

h) Vì sao khi vừa tách ra 4 Phái, Gia phả chữ Nho các Phái đều trở về chữ “Văn” 文ngay từ đời thứ 6-7-8 ?

Tin vui : Hôm qua Phái Ba mang đến một “tàng thư” rách nát, nghe nói đã ở trong hòm phú ý của Phái Ba “lâu lắm rồi”, có lẽ đó là một trong vài tư liệu cổ xưa nhất của Tộc ta, lần đầu nhiều người mới được nhìn thấy.

Quyển đó dành hàng chục trang để viết lời dẫn bằng chữ Nho (chứ không phải chép lại “Lời tựa” trong Gia phả gốc của Tộc ta), biết đâu trong đó ẩn chứa những thông tin gì đó quý giá chăng? Thời gian đã làm các trang “giấy dó” nhập nhiều trang làm một, rất khó tách, và mực xạ chữ Nho cũng phai mờ nhiều. Chúng tôi sẽ cẩn thận tách, ép rồi nhờ danh Nho phiên âm và dịch nghĩa để thông tin đến quý bà con ta biết.

 

KẾT LUẬN : Qua các ý từ 2a đến 2h trên đây, chắc Ô. Trần Thạnh và một số bà con tuy có thể vẫn còn băn khoăn nhưng chắc cũng mở lòng đồng thuận với ý chung của Hội đồng gia Tộc về việc giữ y chữ “Văn” chứ không vội vàng tinh giản đi.

Trong Thư ngỏ ngày 24/3/2014, HĐGT cũng đã viết : “Với lòng kính phục và tri ân lớp người đi trước ... ngôi tự đường mới sẽ sớm là biểu tượng thể hiện bản sắc tốt đẹp của gia Tộc Trần Văn ngày càng rạng rỡ, là niềm tự hào chính đáng của cháu con mỗi khi viết chữ “Trần” trong họ và tên của mình.” (Xin xem toàn văn “Thư ngỏ vận động xây dựng lại Nhà thờ Tộc” đăng ở Website Tộc ta)

Nghĩa là dù chữ lót trong “họ và tên” của mỗi người trong Tộc là chữ gì hoặc không có chữ lót đi nữa thì Tộc Trần Văn ở Xuyên Tây Quảng Nam vẫn là huyết thống của mọi người có tên trong các gia phổ chữ Nho hoặc chữ Quốc ngữ của các Phái/Chi trong Tộc ta. Nhà thờ Tộc Trần Văn – Xuyên Tây năm 1992 và Nhà thờ Tộc Trần Văn – Xuyên Tây đang xây dựng lại năm 2014 vẫn là nơi thờ phụng Tổ tiên chung của chúng ta, không có ai trong Gia Tộc lại nghĩ rằng những người không có chữ Văn là người ngoài Tộc cả.

Một minh chứng nữa là ông Trần Như Sung, Phái Nhì, đời thứ 12, tuy có chữ lót là “Như” nhưng đã được bầu làm Trưởng Tộc suốt giai đoạn 1976-2010, ông cũng đã hết lòng yêu quý và tận tụy với gia Tộc Trần Văn – Xuyên Tây của Ông và của chúng ta.

(Ở quê mình thường gọi “tên cha theo tên con”, nên người ta thường gọi ông Trần Như Sung là ông Trần Tùng, theo tên người con trai cả của ông là Trần Như Tùng, chứ tên của ông vốn là Trần Như Sung)

Và con trai ông, kĩ sư Trần Như Lâm, đã thiết kế và đang tận tụy chỉ đạo xây dựng lại Nhà thờ mới của Tộc ta hiện nay.

 

Hội đồng gia Tộc kính chúc quý bà con an khang và hạnh phúc.

                                                                   TM. HỘI ĐỒNG GIA TỘC

                                                                          TRƯỞNG TỘC

                                                                      (đã kí, đóng dấu)

                                                                         Trần Văn Kim