Phần 3 (cuối)

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

QUÊ HƯƠNG ƠI NGƯỜI LÀ MẸ LÀ CHA

NGƯỜI NÂNG BƯỚC CHÂN CON KHI ĐI, VÀ VÙI THÂN CHE CHỞ MỔI ĐÊM BOM ĐẠN

XA NGƯỜI RỒI CON NGHẸN NGÀO NỖI NHỚ

NƯỚC MẮT ÂM THẦM NHƯ NỖI NHỚ MẸ NHỚ CHA.

   Ngày ấy, ban ngày con người là học sinh,là nông dân, là những mẹ những chị tất tả người nào việc ấy. Ban đêm người dân quê tôi trả không khí trong lành cùng bầu trời bao la cho chiến tranh, biến mất vào hầm trú ẩn nằm sâu trong lòng đất. Đêm, ánh trăng mờ đi dưới lửa pháo sáng thâu đêm. Tiếng đạn nổ như pháo xuân ngày tết, chưa kể những trận đánh giăng đầy xác người, những lúc ấy, trong vòng tay mẹ run rẩy, tôi cuộn tròn người lắng nghe tiếng tim mình loạn nhịp. Trong suy tưởng của mọi người lúc ấy chỉ mong chiến tranh sớm kết thúc, để cuộc sống mình được kéo dài. Và trong tình cảnh đó, tôi nghe tiếng mẹ niệm Phật hằng đêm. Mẹ cầu cho quốc thái dân an? Không, tôi không nghĩ mẹ quá vĩ đại như bao người ngỡ mình vĩ đại. Hỏi mẹ, tôi biết suy nghĩ của tôi là đúng. Mẹ cũng như bao người mẹ bình thường khác, mẹ hằng cầu cho những đứa con của mẹ bình yên qua cuộc chiến. Nhưng than ôi! Anh Dy tôi đã bỏ mẹ ra đi mãi mãi trong những ngày ấy. Nước mắt mẹ nhỏ xuống trán tôi, tóc tôi, trên đôi tay tôi đã làm tuổi thơ của tôi gắn bó vĩnh viễn với quê hương Duy Xuyên yêu dấu, bởi tôi không thể để mẹ tôi một mình dưới bom đạn, chạy cái ăn cho cả nhà, khi cha tôi đã phải dẫn mấy người anh lớn xuống ở Hội An. Mọi kiến thức của tôi có được đều từ sự dẫn dắt của quí thầy, cô của vùng đất ấy. Trong tôi, dẫu hàng rất nhiều năm trôi qua, khuôn mặt của thầy Quyết, cô Nhân, thầy Phúc Mai, thầy Sơn Đức, thầy Dược, thầy Tư, Thầy Suyền, thầy Vĩnh Quyền, cô Lan, cô Giới, thầy Toàn …vẫn còn hiển hiện trong niềm tôn kính. Ngoài ra, ngày ấy tình bạn của những con người học trò trong bom đạn sao mà nó đậm đà lắm vậy, đã không ít thờì gian trôi qua kể từ lúc chia tay, chia tay tuổi học trò mà chúng tôi vẫn còn nhớ nhau, vẫn còn chúc nhau mỗi độ xuân về dẫu tóc đã muối nhiều hơn tiêu, dẫu cách xa nhau hàng ngàn cây số. Làm sao quên được những ngày qua đò cầu chìm đi học khi nước lụt, có đứa bị trược chân té ướt hết cả áo quần, ướt luôn sách vở lếch thếch đến trường, vừa run lập cập bởi cái lạnh của gió Bấc, vừa xuýt xoa ghi bài…hở Phước, Chín, Đinh Anh, Văn Anh, Xanh, Thuận, Hải, Toà, Tiếu, Phụng, Ngọc… Làm sao quên những trò nghịch của lớp, nhất là cú gắn mãnh giấy vẽ bậy lên đuôi áo veston của thầy Thái dạy Pháp văn, bị thầy mắng ra trò vì trò chơi vô ý thức. Mà cũng phải, làm sao quên khi trong chiến tranh, từ đệ thất đến năm cuối chuẩn bị thi tú tài, chỉ có chừng ấy đứa học chung với nhau và cả lớp chia tay nhau đột ngột bởi chiến tranh đã ngã ngũ, có bên chiến thắng và bên chiến bại. Mãi một năm sau ngày ấy chúng tôi mới tụ lại, cùng nhau đưa vào hành trang cuộc đời mảnh bằng tú tài, rồi sau đó thực sự chúng tôi mỗi người mỗi ngã, đứa theo dòng thuyền của người thắng cuộc nhờ cha anh là kẻ có công, nên công thành danh toại, đứa rủ bỏ tương lai thẹn công đèn sách 12 năm miệt mài, đổ mồ hôi bươn chải kiếm cơm vì cha anh là người …lạc hướng.

Hết chiến tranh, quê tôi dần dần đông lên, những thân cây cau, mít, xoài, ổi…bị bom đạn phạt ngang ngửa tàn phế, giờ bắt đầu đâm chồi nẩy lộc. Xóm làng xanh lên từng ngày. Bà con chòm xóm ngày nào di tản tránh chiến tranh, giờ quay về gầy dựng lại nơi xưa. Kẻ mất thì đã từ lâu không gặp nên không còn nỗi buồn hiện hữu, người còn lại mừng mừng tủi tủi ôn lại chuyện xưa, ngày mơ ước hết chiến tranh ăn hạt muối lật cái nong ra nằm ngoài trời cũng sướng.

Kể cũng lạ,mùa màng sau khi kết thúc chiến tranh lại bội thu. Khoai lang củ nứt đất, khi đào, mỗi dây đeo 3-4 củ, mà củ nào củ nấy thấy mê, khoai giống Quế Hương vỏ đỏ ruột trắng dài múp míp bằng cườm tay người lớn, khoai Ngỗng Hổ thì nhìn tựa ống vôi ăn trầu của mẹ. Khoai Chói to, dài cả thước, khoai Nậm tím có củ một người bê không nổi. Người người đào khoai, nhà nhà khoai chất cao như núi, ngày đêm mài miệt xắt làm khoai lang khô. Những loại khoai không làm khô được như khoai Chói, khoai Nậm thì làm chồ chất đống. Chỉ có lúa thì thiếu vì ruộng không có nước, không thể cấy được. Kể đáng tội, người dân trong chiến tranh đâu chú trọng làm lúa, vì gạo đã có Mỹ, rẻ như cho. Rồi Hợp Tác Xã ra đời, đất ruộng người dân không còn được tư hữu, người người trở thành những công nhân nông nghiệp, sáng vác cuốc đi trưa vác về theo hiệu lệnh kẻng, công cán đươc quy ra điểm để cuối mùa làm căn cứ nhận thóc. Người ta ca ngợi tính tự giác, mỗi người làm việc bằng hai, riết rồi người dân đế thêm câu “ để cho chủ nhiệm mua đài mua xe” đầy trào phúng. Mà theo tập tính truyền đời, con người thường yêu mình trước yêu người sau, làm chung ăn riêng, nên khi ra đồng ai cũng như nhân vật đang tua cảnh chiếu chậm trên phim, việc ngày xưa làm một buổi bây giờ làm mấy ngày. Đi ngang đám ruộng thấy con sâu, nếu là của riêng mình người ta đã cúi xuống bắt lấy, còn từ ngày là của chung, ruộng bị vỡ bờ nước tháo ngược, lén nhìn quanh không thấy ai, người ta bỏ đi luôn. Năng suất thấp, lúa nhận ít, thời gian đầu còn của cũ, cái bụng còn no, dần về sau, đói .

Trời đất ạ, đang tuổi ăn tuổi lớn, tôi đã biết thế nào là đói. Đói vàng mắt, suốt ngày quay quắt với cái bụng đang thác lũ réo gào, mỗi khi về đến nhà, tôi thường đi nhanh xuống bếp theo quán tính, giở chiếc nồi, trống hoác! Mắt mẹ nhoà lệ mà chẳng biết làm sao. Xin mẹ, cất mảnh bằng tú tài, tôi gia nhập vào nhóm người trong làng lên Duy Tân làm gạch, trong ấy có anh trai tôi đang cố nuôi sống cái gia đình nhỏ một vợ một con. Ngày phơi nắng, tỉa đất, cho nước vào đạp dẽo bằng đôi chân trần, dùng cung cắt cho vào máy ép cho ra những viên gạch 4 lổ, xếp đi phơi. Đêm sẳn sàng nhào dậy chạy đi che gạch nếu có gió giông. Mỗi bữa 2 chén cơm độn khoai khô chưa đủ lửng bụng, hàng mấy chục con người suốt ngày pha trò chống đói bằng chuyện ăn, mọi vinh nhục trở nên nhỏ nhoi vô cùng. Đang tuổi yêu mà khi nghe cô bạn gái cùng làm chung mở lối cũng chẳng màng, chỉ sáng mắt khi cô nàng bưng cho chén khoai khô mà nàng phải nhịn ăn để dành. Chỉ 2 tháng cùng công trường gạch, tôi phải bỏ ngang về nhà tiếp nghiệp văn chương theo ý nguyện của mẹ tôi.

Đời tôi sang trang mới từ ngày trúng tuyển vào trường Cao Đẳng Sư Phạm Đà Nẵng.Ngày ấy, mọi sinh viên đều được đào tạo miễn phí, từ cái ăn, mặc, sách vở, cả tiền tiêu vặt…Hằng ngày tất cả chỉ có một nhiệm vụ duy nhất: Học.Chúng tôi là lớp đào tạo chính quy đầu tiên sau chiến tranh. Phải nhanh chóng trang bị hành trang cần có để trở thành nhà giáo thời đại mới, với trang triết học đầu tiên được học là :Vật chất quyết định ý thức. Mùi nắng, mùi bùn, mùi khét trên tóc …của những chàng trai nhà quê nhanh chóng biến mất. A,đây rồi-thằng tôi cao lớn dễ nhìn đã xuất hiện, giảng đường đã làm trắng da dài tóc bao anh chàng và bao cô nàng. Những cái liếc, cái nhìn, những mảnh giấy trao đi gởi lại, nhiều cuộc tình sinh ra, lớn lên và…thậm chí chết đi bắt nguồn từ nơi đây. Tôi cũng không thể thoát ra ngoài quy luật đó, thậm chí còn là cặp đôi nổi tiếng khu Hồng Đức (trường CĐSP Đà Nẵng chia làm 2 khu: khu Hoà Khánh và khu Hồng Đức),để rồi sau khi ra trường trở thành nhà giáo, một lần trở lại,tôi đã lưu dấu bài thơ:

      Ta đi trong cơn chiều Hoà khánh.

      Lắng nghe lòng trỗi khúc sầu tư,

      Nhớ thương ai một đời mòn mỏi,

      Tim nhói đau tận đến bây chừ!

      Nắng vẫn đổ oà trên tượng phật,

      Vỡ vụn ra cát dưới chân mình,

      Biển Nam Ô vẫn ngàn năm sóng vỗ,

      Chỉ có em và anh đau khúc oan tình.

Những năm tháng đầu của đời nhà giáo là những năm tháng đẹp nhất của đời tôi. Ngày ấy giáo viên thiếu kinh khủng, tôi hùng hục ngày đêm nơi mái trường PTCS Duy An Đông, có nhiều lúc ngỡ mình là Cocsaghin Paven, mặc đồng lương chết đói, say mê từng trang sách với học trò, lương không đủ ăn, về bám người mẹ nay đã già, không còn sức lao động cho HTX, phải đi mót sắn khoai sót lại sau vụ thu hoạch. Buồn tủi nhìn nhau câm lặng, chịu đựng.Thấm mệt, một chiếc xe đạp 2 màu (xe bị gãy giàn , không có tiền sơn lại, đành xin sơn thừa phủ đại chống rỉ), cọc cạch 4 cây số xuống lên từ nhà đến trường bao năm. Gặp năm đất nước tổng động viên chống Tàu xâm lược, trúng tuyển, tôi vào lính, nổi trôi khắp nước, sang tận Kampuchia tham gia chiến dịch CK84, không chết, về nước ra quân trở lại bục giảng, ngày ở lính đã đươc khen là chiến sĩ ưu tú bởi thành tích đỗ đầu trường hạ sĩ quan Phù Cát, nay trên bục giảng được vinh danh là chiến sĩ thi đua cấp Huyện, giáo viên giỏi cấp Tỉnh…Nhưng khi nhìn lại, để tồn tại, thấy buồn ”Đầu đường thầy giáo vá xe-Cuối đường cô giáo bán chè đậu đen”.

Bao năm, mẹ chẳng quản hao gầy thân xác, đồng cạn, ruộng sâu, nắng đổ, mưa sầu, nhịn ăn, nhịn mặc nuôi con. Mà nay, trước mẹ già, phận làm con không nuôi nổi mẹ lấy một ngày. Làm người, lại làm cái nghề truyền bá luân lý cho đời như tôi, thấy quá hổ thẹn với đời, đêm nằm thao thức , làm sao đây?

Ban ngày lên lớp, rảnh giờ nào là theo người lên Gò Dỗi móc đất đải vàng Hời, quên luôn ý thức về việc phải tôn trọng di tích cổ xưa. Đêm mang đèn, mang giỏ chui rúc bờ tre, bụi chuối bắt ếch, bắt rắn…Ôi, nhắc đến bắt rắn, tôi lại nhớ đến cú suýt bị tổ trác. Chuyện là khoảng năm 86-87 chi đó, trời mới có mưa, thấy tôi đi soi một mình tội nghiệp, nên vợ tôi lò dò đi theo, ra sau bờ tre ông Kiểm, để vợ đứng một mình ngoài đồng trống, tôi chui vào bàu tre. Quét đèn giây lát lượm được mấy con Rùa, tôi lò dò tiến lại một bụi tre, luồng ánh sáng đèn làm tôi như muốn đứng tim, một con rắn trườn ra, khi phát hiện ra chiếc đầu con rắn ngóc lên, chiếc cổ nở bạnh ra mang một hình thoi là tôi điếng hồn, với kiến thức một ông thầy dạy sinh vật, toàn thân tôi lông như dựng đứng. Tôi lập tức thối lui, ánh sáng đèn vẫn rọi thẳng vào mắt nó, lùi dần, lùi dần.Bất ngờ, chiếc lồng sắt mang bên hông để đựng chiến lợi phẩm bị một cành tre gai móc vào, lui không được mà con rắn vẫn lừ đừ tiến tới. Nhờ được trui rèn trong lính, nên bình tĩnh của tôi vẫn còn, mò tay vào chổ giỏ bị mắc, hét một tiếng lớn nạp thêm dũng khí, tôi giật mạnh , cành tre bật ra, quay người, tôi phi thẳng qua mấy bụi tre gai, phóc qua một con mương tiêu thuỷ, chạy một mạch ra chổ vợ tôi đứng chờ, hổn hển cầm tay kéo đi một mạch không quên quét đèn kiểm tra con đường vừa chạy có dáng của con rắn hổ mang rượt theo hay không, mặc vợ cứ kêu lên thảng thốt cái chi, cái chi ? Ra xa xong, tôi chợt phì cười khi thấy đôi chân của vợ quíu lại khi nghe tôi bảo vừa gặp rắn hổ mang chúa! Thế đó, dẫu gì con người phải tồn tại, mặc cho ai vinh thân phì da, quơ quào những cái không là của mình, trong khốn khó, hạnh phúc sẽ có khi biết chấp nhận. Giống như lửa, đôi khi tồn tại là những hòn than, để một ngày bùng lên thiêu cháy rất nhiều rừng gai xấu xí.

Chưa hết,tận dụng những ngày hè, rủ nhau lên rừng Phước Sơn đãi vàng mỏ. Chui vào tận Trà Nóc, Khe Dâu, lẻn vào khu vàng Bồng Miêu ở Hiên…Theo người vượt Trà Giáp câu cua đinh, cá chình. Làm tất tần tật mọi cái với ước vọng đổi đời, trừ cướp giật và ăn xin. Nhưng, nghèo vẫn hoàn nghèo,thiếu thốn hoàn thiếu thốn, con bệnh không tiền lo thuốc men, mẹ khổ đành nhắm mắt làm ngơ, đời nhà giáo lương cứ ba cọc ba đồng, không lẽ cứ mãi duy ý chí,sống bằng không khí…(Đâu như bây giờ,bằng con đường dạy thêm ,dạy kèm,đời giáo viên rủng rẻng…) Tôi buông tay đầu hàng, rời bục giảng trong xót xa. Cũng trong năm này hàng loạt đồng nghiệp của tôi đồng loạt rời ngành lao vào cơn lốc kinh tế thị trường, ngành giáo dục mất biết bao tài năng…Và, đất Saigon sau nầy chúng tôi họp mặt kỷ niệm ngày nhà giáo hằng năm cả trăm.

Quê hương tôi, làng Xuyên Tây mà nói rộng ra, đất Quảng Nam, vẫn muôn đời được đôi cánh tay mẹ Thu Bồn ôm ấp chở che, với những đứa con xa xứ như tôi, quê hương mãi là chùm khế ngọt (dẫu cho ai đó nhanh tay nên hái được nhiều), là những hoài niệm thân thương, không thể nào quên. Nơi ấy có mồ cha mả mẹ , có rất nhiều kỷ niệm ấu thơ, có những câu ca dao ngọt ngào tình tự lứa đôi :

        Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng,

       Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi.

       Thương cha nhớ mẹ thời về,

       Nhược bằng thương cảnh nhớ quê thời đừng …

Ôi đằm thắm xiết bao, lời tình tự mộc mạc chân thành như một lời nhắn nhủ, bạn tình ơi nếu vì chữ hiếu mà bạn than thở thì bạn nên đáo cố hương, còn vì những vấn vương nào đó thì đừng bạn ơi. Bởi vì:

       Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,

       Người xa người tội lắm người ơi.

       Chẳng thà không biết thời thôi,

       Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi sao đành!

Hay thấm đẫm lời răn:

       Làm trai cho đáng nên trai,

       Xuống Đông, Đông tỉnh –lên Đoài, Đoài yên.

       Đừng mơ cậy thế cậy quyền,

       Gà què ăn quẩn cối xay nhục đời.

 Hay nhắc nhở thói tráo trở đời thường của những cặp đôi chán chè, chê cơm:

       Ví dầu tình bậu muốn thôi,

       Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.

       Bậu ra…cho khỏi tay ta,

       Cái xương bậu nứt,cái da bậu mòn…!  

Vẫn còn đó cái tình người xứ Quảng đậm đà chơn chất, cái tính khí mộc mạc đến nỗi có thể trở nên cộc cằn khi bị một ai đó hiểu lầm, dẫu thời gian có trôi mau và nền văn minh, cái văn hoá ứng xử hiện thời đã bị tha hoá bởi thời cuộc. Mỗi một lần đáo cố hương là một lần tự đáy lòng lại nhói lên rất nhiều bổi hổi bồi hồi niềm thương yêu, biết ơn. Đã rất nhiều lần nước mắt tự dưng ứa ra khi bước ngang qua chiếc cầu Hoả hay cống Tự, bàu Ông Cang, bãi Bàu Côn, bến tre làng…Tuổi thơ ơi,kỷ niệm ơi…bóng hình ngày ấy sao như mới hôm qua.

TRẦN KA TÊ    

Saigon 10-2-2015

(Hết)