(Phần 2)

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cái hấp dẫn nhất là sau mỗi mùa nước lụt, nơi những chân cầu hay vụng nước xoáy, buổi chiều khi mặt trời nghiêng xế về tây, môt chiếc cần câu với những con mồi là con Mày Mạy (một loài ấu trùng chuồn chuồn), người ta lại châu đầu câu cá Thác Lác,một loài cá có cách ăn mồi rất chi là hấp dẫn, vừa ngoạm vào con mồi là cá vội lao xuống sâu, ta vừa thấy chiếc phao lay động là nó đã tụt mất hút vào làn nước, khi mắc câu cá cong đuôi lại, khiến người câu có cảm giác khi kéo cá là rất nặng, làm độ hấp dẫn tăng lên nhiều lần. Cá Thác Lác câu được làm sạch đem nướng lửa than, dằm mắm gừng pha chút chanh ớt thì chỉ có hao cơm. Bằng không, làm siêng dùng muỗng nạo lấy thịt cá làm chả thì lại càng thêm tuyệt.

Hết chiều, tìm về những chân cầu nước chảy mạnh mà đáy nhiều đá, người ta lại có thú vui khác: câu cá Chình. Những con cá dữ tợn có thân lươn, hàm khoẻ đầy răng, con lớn có khi đạt trọng lượng 7-8 ký, to bằng bắp chân người lớn, da loang lổ như da beo đầy đe doạ. Cần để câu là cần tre già bằng ngón chân cái người lớn, có đầu ròng rọc như cần câu cá lóc, một cuộn dây cước 100 (to cỡ 10 ly) quấn vào một ống gỗ mít tiện tròn rỗng giữa vừa tay cầm, chì câu thuộc loại đặc biệt, cực nặng dùng để chống nước trôi. Mồi câu là cá Đối nhỏ tươi sống hoặc ruột gà. Đi câu cá chình nên đi 2 người để hổ trợ khi được cá. Giữa đêm đen,hai người móc mồi thả đường câu vào vùng đá nước chảy xiết, căng dây, mọi cảm giác tập trung vào tay câu. Cá chình khi ăn rất êm, một cú cắn mồi nhẹ hều, sau đó là những cú rịt nơi tay cầm ống câu. Người câu phải tinh tế nới cước theo từng cú rịt. Cuối cùng là một cú kéo mãnh liệt, cá chình đã chịu nuốt mồi và trườn đi. Khó mất cá sau cú kéo trừ trường hợp đứt dây hoặc mắc vào kẹt đá. Bây giờ là cuộc chiến tay đôi giữa người và cá. Người câu phải giữ chặt ống câu, sẳn sàng thu dây mỗi khi con cá chình vì đau chịu lùi .Nhưng, cái nguy hiểm nhất là lúc đưa được nó lên bờ. Chiếc đuốc hoặc đèn pin lập tức được người bạn câu đốt lên, con cá sẽ liên tục lao vào người đối diện, từng cái táp tung ra. Người bạn câu phải nhanh tay hốt cát khô phủ lên mình nó, giữ chặt lấy đầu cá, rút nhanh chiếc ghim giắt theo mình, cắm đúng vào chổ hỏm, nơi tiếp giáp giữa đầu và mình cá. Cắm và lắc ghim, con cá chình sẽ tê liệt, mềm oặt nhưng vẫn sống. Thịt cá chình ngon không chịu được, nghe đồn là ăn nó rất sung cho bản lĩnh đàn ông.

   Thú vui và cũng là nguồn sống của người dân quê tôi chưa hết đâu.Tháng 5, mùa nước lợ, nước mặn từ biển theo cửa Đại, cửa Hà Giang theo dòng chảy sông Thu Bồn tiến lên lấn nước ngọt ở sông, tạo thành nước lợ. Nước mặn lên mang theo sản vật biển lên theo, trong đó có cua. Những con cua biển lên sông trở nên chậm chạp, lần mò dưới đáy, và bọn trẻ con lại có thú mới: lặn cua. Những bữa trưa hè, sau tiếng hú dài và câu tiếng lóng: ”Đập chuông” (tiếng nói lái của người Quảng do bọn trẻ con sáng tác có nghĩa như sau: đập chuông = đun chập = đâm chuột = đăm tý = đi tắm).Chúng tôi tập trung về Gò Giữa của bến đò Tơ thuộc làng Mã Châu, nơi có vị trí giữa cầu Bà Rén với cầu Chìm, đây là khúc sông rất sâu. Sau khi bông nhông và để hết áo quần trên bờ, tất cả nhẹ nhàng xuống nước, hít những hơi dài lặn sâu vào làn nước mát lạnh, nằm ép mình nơi đáy cát, bọn chúng tôi mắt mở trừng trừng quan sát chung quanh. Những chú cua biển thỉnh thoảng lọt vào tầm ngắm chúng tôi, chúng giương đôi mắt thao láo trườn tới, đưa đôi càng hăm doạ kẻ bắt gặp, rất mừng khi gặp nhưng cũng có khi kẻ bắt gặp cua phải bỏ cuộc đầy tiếc rẻ vì hết hơi. Còn không, người đi săn phải lâp tức nhẹ nhàng áp sát nó, một bàn tay ép sát vào mặt cát, năm ngón tay giương lên ve vẩy như một bạn cua, bàn tay còn lại vươn về phía sau con cua, nhanh chóng mà yên lặng đưa sát vào mình nó, lòn 4 ngón tay vào yếm cua, ngón cái ấn nhanh xuống mai cua, nắm chặt, tránh được nguy hiểm của đôi càng và lập tức mang chiến lợi phẩm lên mặt nước. Kỹ thuật bắt cua nầy chúng tôi phải thuộc nằm lòng, ngược lại, nếu bị cua kẹp dưới đáy nước sẽ bị uống nước như chơi, vì phản ứng của người bị kẹp đau là hả miệng để kêu…Sau một hồi ngụp lặn làm thợ săn, cả bọn sẽ tập trung vào một bóng tre bên bờ sông ,lấy cỏ khô đốt lên nướng cua vừa đỡ lạnh vừa hít hà nuốt nước miếng nhìn những giọt nước từ mình cua nhểu ra phát tiếng xèo xèo thơm phức.

Đêm trên sông Thu ở những đoạn có những gò cạn ven sông hay giữa sông, thường hay có những đóm lửa lập loè và những bóng người đi soi cá. Nó giúp giải cơn ghiền của những tay sát cá và cũng để kiếm thức ăn cho người dân quê tôi hằng ngày. Đừng tưởng bở soi cá là công việc dể dàng. Người soi lỉnh kỉnh nào bên hông là chiếc giỏ đựng cá, một tay cầm nơm, một tay cầm đuốc (có khi là chiếc đèn dầu tự chế, có ngọn bấc to bằng ngón tay cái gắn trong cái gàu múc nước che gió và cũng để ánh sáng chiếu về một hướng), người đi soi phải có con mắt tinh tường và một phản ứng nhanh nhạy hòng úp chính xác hướng chạy của cá, nếu úp được cá trong nơm ta sẽ nghe được những cú va chạm vào thành nơm khi cá chạy, người đi soi còn phải có động tác xoè lẹ làng bàn tay che miệng nơm khi đó là một con cá lóc, nếu không cá sẽ trượt theo thành nơm phóng lên miệng thoát ra ngoài. Bắt cá trong nơm cũng phải có xảo thuật, chứ không, cứ mò hoài mà con cá như một nghệ sĩ xiếc, cứ lẫn, làm người ta mỏi lưng, điên tiết. Khi đó, một tay giữ miệng nơm, một tay qươ sát thành nơm chừng nửa vòng tròn là lẹ làng đảo chiều, con cá đang hết tốc lực chạy tránh bị bàn tay đảo chiều đón đầu, a lê hấp, chạy đâu cho thoát, mời vào giỏ. Đi soi mà gặp một bãi tôm càng xanh là tuyệt nhất, người soi lúc ấy sẽ như một chú mèo chộp mồi, tôm gặp ánh sáng sẽ lùi dần, người nôn nóng phóng nơm mạnh xuống thì con tôm sẽ như một chiếc hoả tiễn phóng ngược mất tiêu ,và cả đàn sẽ nhanh chóng chấm dứt tình tự,cả một bãi tôm lúc ấy chỉ còn lại những bụm cát bùng lên, thoáng chốc mất dấu. Cho nên người đi soi lúc ấy phải thật nhẹ nhàng,đôi chân rút lên và hạ xuống sao cho không có tiếng động, nơm chạm mặt nước thật nhẹ và lập tức được nhấn nhanh xuống đáy. Những con tôm càng xanh sẽ cho người lớn nhiều bữa chiều nhâm nhi cùng bạn bè chếnh choáng.

Đó là mùa nắng, còn mùa mưa, nhất là những cơn mưa đầu mùa, những cây mưa như cầm chỉnh đổ, đồng cạn, đồng sâu nổi nước. Khi mặt trời khuất sau rặng núi Cà Tang, tiếng ếch đồng vọng như một dàn tình ca hợp xướng, đầu hôm vang vang lãnh lót mời gọi, những tiếng gọi tình của ếch đực thôi thúc mãnh liệt, càng về khuya tiếng ếch trở nên trầm ấm thiết tha. Từng đôi đến bên nhau tình tự, tiếng oạp oạp càng sâu lắng hơn, đó cũng là lúc những ánh đèn pin hoặc đuốc bả mía càng gấp gáp hơn, những người soi ếch quê tôi đang khẩn trương quét đèn tìm đóm ếch. Trong đêm đen dưới ánh đèn pin, lập lờ mặt nước, hàng ngàn đốm sáng lập loè. Không dễ phân biệt đâu là đốm ếch. Đốm nhỏ lung linh là đốm nhện nước, đốm xanh khoảng cách hẹp là nhái bén, đốm vàng to chiếu đèn lâu là biến mất là của chuột. Đốm đỏ độc chiếc thường di chuyển coi chừng là rắn. Đốm đỏ mờ, tròn, to hiện cả cặp là của ếch và chúng đang trực diện với người soi, nếu chỉ thấy một đóm là người soi đang ở mé hông nó, 4 đốm chồng sát nhau là ếch rộp, chúng đang cặp đôi. Khi phát hiện ra ếch, người soi lập tức phải giữ luồng sáng của đèn không để mất dấu, vì có nhiều con ếch thấy đèn lập tức hụp xuống nước trốn mất dạng, người soi nhanh chân tiến về vị trí đã định để chộp lấy con ếch đang ngụp đầu trốn trong nước. Cái hấp dẫn nhất là bắt ếch rộp, cứ mỗi lần là một đôi, có khi 3 con, 2 con đực ,một con cái, ếch cái lúc nào cũng to hơn. Những lúc gặp ếch rộp 3, có khi chúng to quá không thể nắm trọn, người ta phải ép chặt chúng vào đáy ruộng, khéo léo không cho con ếch trên cùng thoát, quyết không để mất con cuối cùng vì nó là ếch cái , to nhất. Ếch là vật phẩm mà con người mệnh danh là gà đồng, thịt trắng thơm ngon, nhiều đạm, ít cholesteron, rất tốt cho người có thể trạng yếu. Người ta có thể chế biến ra nhiều món khoái khẩu như rô ti xối nước mắm, nướng mọi dùng với rau răm cùng muối hột, kho rim ăn với cơm hay nấu cháo đậu xanh, đậu đen đầy bổ dưỡng, băm nhuyễn làm chả viên chiên…Với người nhà quê chúng tôi, người ta hay đào hầm sâu có nắp đậy nhốt chúng dùng dần, đỡ chạy chợ mua thức ăn. Một cây mưa lúc nắng hạn, lượng ếch bắt được có khi để dành dùng cả tháng.

Mùa bão lụt là những nổi kinh hoàng của người dân quê tôi, nhưng cũng nhờ những trận lụt mà ruộng đồng được bồi đắp phù sa, tiêu diệt bớt chuột bọ, sâu trùng…Và thường thường sau lụt, lũ con nít chúng tôi lại có nhiều việc làm phụ giúp đời sống gia đình như giăng câu, cắm thỏ, đặt trúm. Mỗi việc đều có cái thú riêng của nó. Như cắm thỏ, một công việc tưởng chừng như đơn giản, chỉ là những cần tre vót dài nửa thước, một đầu vót nhọn, một đầu được cột một đoạn cước có gắn một lưỡi câu 8 hoặc 10 (một số chỉ độ lớn nhỏ của cung lưỡi câu) dài gần bằng độ dài chiếc cần. Đây là công việc không dành cho người có óc hay quên, với khoảng 100 cần cắm một lần, khi thu hoạch không để mất bớt cần là điều khó. Cắm thỏ hiệu quả hơn giăng câu nhiều nhờ nó có thể cắm vào những vị trí đắc địa. Tôi bật mí cho các bạn biết, do không nắm được kỹ thuật cắm mà nhiều khi cùng cắm trên cùng một bàu nước, mà người trúng đậm, kẻ buồn xo. Đừng tưởng treo lơ lửng con mồi trong nước cho cá dễ phát hiện là cá sẽ ăn ngay.   Trong đêm, cá đi ăn, chúng phát hiện ra mồi là nhờ khứu giác và xúc giác. Cá thường cắm đầu đưa miệng sát đáy bùn để đánh hơi và dùng đôi râu để tiếp cận con mồi. Do đó,ta phải cắm sao cho lưỡi câu có mồi nằm chùng trên đáy, cá ngậm được mồi xong thường vừa bơi vừa nuốt mồi (có lẽ do phản xạ sợ mất món ăn đã chiếm hữu của mọi loài trong tự nhiên), do đó nếu dây không đủ độ chùng, mồi chưa được nuốt sâu, cá bị lưỡi câu chạm quá sớm sẽ nhả vì sợ.Những con cá lóc dính câu thường chạy quanh, nếu chúng cuộn được vào cành, vào cỏ chung quanh, có điểm tựa cá sẽ dùng sức mạnh dãy thoát. Nếu là lươn, chúng sẽ xoay vòng vào cỏ đến khi lưỡi câu tuột ra khỏi miệng, hoặc làm đứt dây câu. Gỡ một con cá lóc dính câu lại là một kinh nghiệm của bao lần sẩy cá. Thấy bóng người gỡ câu là cá sẽ quậy đùng đùng, cá càng lớn, khoẻ, càng khiến người cắm câu thận trọng, quan sát nếu thấy cá không vướng vào bất cứ chổ nào, ta phải nhẹ nhàng nhổ cần mà không kinh động cá khi ta không có vợt, nhổ xong dìu cá vào sát bờ và a lê hấp, giật cá nhanh lên bờ.

Nói đến cá lóc, người dân xứ Quảng thường nghĩ đến món mì quảng. Mì quảng ngon nhất là sự phối hợp của các sản vật: cá lóc, gà ta và tôm đất đánh bắt vùng nước xà hai Duy Nghĩa. Mì được làm từ gạo xay thành bột, mà nếu từ gạo lúa Lốc như mẹ tôi hay làm thì cực ngon. Nói thiệt với bạn, từ lúa Lốc bây giờ có lẽ chẳng ai còn biết, mà nếu có biết thì chẳng mấy ai nhớ trừ những người hoài cổ như tôi. Lúa Lốc là một loại lúa nương truyền đời, người dân quê tôi đã gìn giữ hàng trăm năm, dùng gieo khô xen với mùa bắp tháng 3. Sau khi thu hoạch xong bắp, cỡ tháng 6-7, cây lúa ngang đầu gối người lớn, chỉ một nước xới cho sạch cỏ cũng là làm cho đất tơi xốp giúp lúa phát triển, hầu như lúa chỉ hưởng chút dư thừa dinh dưỡng từ mùa bắp còn sót lại, thế mà nó lại phát triển nhanh kỳ lạ,nó đứng vững trước nhiều cơn gió như bão (Hèn chi gọi là lúa lốc), làm đòng, trổ bông và cho những hạt chắc mẩy màu huyết dụ thơm ngon dẻo ngọt lạ kỳ. Mì tráng từ lúa lốc phải được người thợ pha nước (gọi là lấy trùng) đúng điệu, sẽ cho ta sợi mì dai như dây chảo, con mì sau khi tráng sẽ được thoa lớp dầu phụng (dầu lạc) trước khi xắt, mà phải xắt bằng tay sợi mì mới hấp dẫn. Nhìn con mì màu nâu nâu, xếp bung xung trong chiếc tô đất trắng ngà, được chan lên một miếng thịt gà vàng rộm, vài con tôm đất đỏ cong màu hổ phách, vài miếng cá lóc chín um kỹ càng thơm lừng mùi nén…Bên trên là nhúm hạt đậu phộng rang đập dập và cuối cùng là mấy cọng lá hành xanh cắt đoạn. Mới nhìn thôi mà nước miếng đã ứa đầy trong miệng. Mà hãy khoan ăn vội, hãy từ từ ăn theo đúng công đoạn mà người dân Phú Chiêm thưởng thức mới thấy cái ngon kỳ vĩ của mì quảng. Mỗi tô mì phải có một đĩa rau sống mua từ làng rau Trà Quế, đó là một hổn hợp rau gồm cải con, húng thơm, húng lủi, diếp cá, tần ô, giá sống…Một miếng bánh tráng nướng giòn có phết dầu phụng trước khi nướng. Nếu có thể, người ăn nên rút chân ngồi chồm hổm trên ghế, mắt đăm đăm nhìn tô mì vừa trộn vừa cúi gằm dần sao cho mùi thơm tô mì càng lúc càng tăng trong mũi, những sợi mì đẩm nước cốt nhưn dẻo quẹo, ta gắp một đũa rau để vào cụm mì vừa trộn, nín thở lua một hơi, từ từ thở ra để nghe mùi thơm của ngụm mì từ trong phả ra hoà hợp cùng mùi thơm bên ngoài, cộng vị ngon ngọt của nhưn, thấm đẫm từng chân răng, nhón lấy miếng bánh tráng đưa vào miệng, thong thả nhai. Cái dẽo của sợi mì, cái dòn của bánh tráng, cái béo của dầu phộng, cái thơm của rau cùng đậu rang đập dập…Chao ơi, sao mà ngon, mà mặn mà đến thế. Người xưa đất Quảng Nam sao mà điệu đàng khi nghĩ ra một món ăn cực kỳ sâu lắng khi bản chất con người xứ quảng lại vô cùng mộc mạc, chơn chất đến thế. Sau nầy, dẫu tuổi đời chồng chất, dẫu lang bạt kỳ hồ, mỗi khi nhớ đến món mì quảng là nước miếng tôi lại ứa ra đầy kẻ răng. Xin đừng cho là tôi bốc phét, quê hương ta cái gì cũng nhất, mà hãy tha thứ cho tiềm thức của mỗi con người, nó là món mà mỗi đứa trẻ sinh ra đến khi biết ăn, được ăn đầu tiên ngoài cơm, mà lại từ bàn tay của người mẹ đẻ mớm cho. Cũng giống như phở của người Hà Nội, hủ tíu của người Sài Gòn…Tuy vậy, cũng cho tôi tạ lỗi cùng vô vàn món khác như bánh xèo, bánh bèo, bánh đúc, bún giò heo…của quê hương Quảng Nam, món nào cũng ngon nhưng mì quảng là nhất.

Năm tháng cứ lững lờ trôi, bọn trẻ con chúng tôi ngày nào dần dần thành người lớn.Năm sáu lăm (1965) chiến tranh nổ ra, bom rơi đạn nổ, bọn trẻ chúng tôi đứa có điều kiện đươc cha mẹ đưa vào thành phố, xa chiến tranh hằng ngày nhưng không phải là đoạn tuyệt được hẳn, pháo đêm đêm vẫn tìm lối theo vào. Tôi là một trong những thằng được bám trụ lại quê. Xóm làng ngày thưa vắng dần, người ta phải cày cuốc trong tiếng rít gầm của đủ loại vũ khí hung tàn mà con người có thể nghĩ ra để tiêu diệt nhau.Kẻ chết sẽ được người sống khóc than một khoảng thời gian rồi mau chóng quên đi, vì trong cái chết rình rập hằng ngày, người ta thường chai sạn trong ý nghĩ: ngày mai, số phận biết đâu lại là …ta ! Sự sống và cái chết đan xen nhau từng thời khắc. Chúng tôi, những bọn trẻ không còn con nít cũng thế, cứ vô tư đi giữa sự âu lo nhói buốt của cha mẹ. Xong Tiểu học lên trung học đệ nhất cấp rồi đệ nhị cấp, chúng tôi rình rập bom đạn để học. Ngoài lớp học, gặp Mỹ chúng tôi mang vốn liếng trên lớp ra ấp úng nói chuyện, gặp Hàn quốc lại giở tiếng bồi xãnh xìn ô xịp xúc bà Nờ ra nói chuyện bằng tay…Riết rồi thuộc bài ngoại ngữ trên lớp lúc nào không hay. Còn học văn, ô, lại là chuyện như đùa của bọn tôi ngày ấy, mới cuối tiểu học hoăc đầu trung học mà có đứa đã làm thơ, viết văn thông thạo. Có lẽ nhờ quí thầy cô ngày ấy được phép cho chúng tôi đươc tự do thổ lộ mọi suy nghĩ ra trên giấy theo phương pháp tạo sườn của một nền giáo dục khai phóng… Ban ngày đi học trên lớp, chiều lại lên các bàu, đìa trong làng cắm câu, đặt trúm.

Do lượng người bám trụ tại quê không đông nên lượng sản vật nước rất nhiều mà sức tiêu thụ lại tập trung tại các thành phố lớn lại cao, nên bọn trẻ chúng tôi đã cơ hội phụ giúp cha mẹ. Có hai loại hình mà ngày ấy chúng tôi rất thích: nơm và đặt trúm.

Trúm là một loại công cụ làm bằng ống tre lồ ô rỗng, một đầu có gài một chiếc hom được bện bằng nan tre vót mãnh chụm vuốt vào trong nhằm giữ con lươn khi vào là không có đường ra. Đầu còn lại được chính cái đốt tre bịt kín, chỉ được khoan một lổ nhỏ giúp lươn thở khi nằm trong ống. Ba giờ chiều là lúc xóm tôi vang lên tiếng bằm của dao thớt, dân đặt trúm đang làm mồi, mồi là những con giun đất băm nhuyễn trét lên hom trúm. Khi chiều nghiêng thẫm xuống dãy núi phía Tây là những chiếc ống trúm được mang lên đặt ở những chiếc đìa, bàu…Người ta cắm cố định miệng trúm sát mặt bùn bằng chiếc que tre vót nhọn xuyên qua thành ống tre nơi miệng trúm, còn đuôi trúm được gác lên bờ đất sao cho không ngập nước. Mùi tanh của trùn làm những con lươn trong hang hốc chung quanh tìm đến, men theo mồi, lươn dùng sức cùng độ trơn của mình chui vào lòng trúm, và sẽ không còn cơ hội trở ra trừ chiếc hom được làm bởi người thợ tồi, có khi một ống không chỉ có một con chui vào…Sáng ra, khi gỡ trúm, ta phải một tay bụm miệng trúm, một tay rút que cắm tránh rủi ro bị tuột hom. Khi lên khỏi mặt nước, ta chúc ngược đầu có hom xuống, nước tuôn ra, lật ngược nếu cảm giác nghe tiếng bum nơi đáy trúm là tuyệt, tiếng bum càng lớn lươn càng to, trừ khi nhiều con vào cùng.

Ngày ấy quê tôi thường dùng lươn để nấu canh chua hoặc hấp trong lá chuối cùng nếp và đậu xanh, đó là một món ngon, bổ thường dùng cho người bệnh cần bồi dưỡng, còn không người ta chọn những con lớn, rọc bỏ xương sống, ướp ngũ vị hương kẹp lá nghệ nướng lửa than, chấm mắm gừng lại càng tuyệt. Mà cũng lạ,những ngày ấy, đặt trúm kiểu gì cũng trúng đậm lươn, mỗi buổi sáng nhìn đống lươn anh tôi mang về đổ ra những chiếc thau lốc nhốc là mẹ tôi lại lắc đầu dù rất vui.

Mỗi lúc chiều mát, bọn trẻ chúng tôi 5-7 đứa hay rủ nhau đi nơm cạn, mỗi đứa cầm 2 tay 2 chiếc nơm lớn, có đường kính chừng nữa mét. Tập trung ra khu vực bến Thìn hoăc bàu Đụng, giăng hàng ngang úp nhịp nhàng nơi nước sâu mấp mé đầu gối. Ngày ấy, không hiểu sao vùng quê tôi rất nhiều cá chép đồng, đây là loại cá chép có lưng gù, bụng hơi phẳng, toàn thân có màu xám xanh, nhỏ con,thiếu màu vàng gạch của cá chép sông, nhiều xương nhưng cũng rất ngọt thịt, chiều về chúng lại hay tụ tập nơi có khoảng nước cạn mà bọn tôi chọn làm vùng để nơm cạn. Chỉ cần chừng một tiếng đồng hồ nơm cật lực cùng một chút may mắn là một đứa có thể mang về vài chục con như bàn tay. Đây là loại cá có thể kho ngọt cùng rau răm cho vị ngon không thua kém loài cá giếc, hay đem chiên xù dằm nước mắm cực ngon.

Trần Ka Tê

Sài Gòn - 10/02/2015

(còn tiếp)