Xin giới thiệu đến quí vị một bài viết thú vị của Ông Trần Văn Thân về quê hương Xuyên Tây - Duy Xuyên, có thể nói đây là những tư liệu hiếm có về những sinh hoạt thôn dã và sản vật quê nhà, được kể lại bằng một giọng văn hoài niệm hấp dẫn.

Trần Văn Thông

Ban Quản trị trang Web

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

QUÊ HƯƠNG và NỖI NHỚ

Có những điều không nói ra sẽ làm ta trăn trở, mà nói ra thì lại sợ chuyện ta nói trùng lắp, thừa thãi với mọi người. Nhưng cuối cùng, thà nói dư còn hơn cứ mãi bâng khuâng trong lòng.

Quê tôi, vùng đồng bằng Duy Xuyên, nơi có con sông Thu Bồn trong vắt, mềm như dãi lụa uốn lượn giữa hai bờ dâu xanh mỡn . Dãi lụa mềm ấy, từ Dạn Bùn lại vươn đôi tay như mẹ hiền, một cánh tay qua ngõ Trường Giang rì rào bến đợi Câu Lâu qua Cẩm Hà, lượn ngang phố cổ Hội An xuyên Cửa Đại vào Thái Bình Dương mênh mông. Cánh tay còn lại vượt trạm Cầu Chìm luyến lưu Bà Rén,xuyên mãnh đất Duy Thành nơi có bàu Văn Quật là thánh địa của dân câu cá lóc, rồi cũng theo người anh em hòa vào biển cả bao la.

Tôi đã sinh ra nơi ấy, lớn lên bằng sữa mẹ, bằng không gian thơm ngái mùi dâu tằm, bằng những sáng theo mẹ gánh rau lên chợ Trà Kiệu, xế chiều tắm nhổng bến Tre Làng, bến Dạn Loan cùng biết bao thú vui mộc mạc dân dã của một vùng quê. Cuộc đời quanh năm vui như ngày tết với lũ trẻ chúng tôi, mặc lo toan cho cha, cho mẹ. Con tạo xoay vần, tháng năm như chiếc thoi dệt vùng Mã Châu. Đất miền trung mà, mùa hè nắng gắt, cộng gío Lào tháng Sáu, đất nẻ chân chim. Mùa mưa, mưa chập chùng thối đất, xen lẫn là những trận bão kinh hòang. Với người lớn là những lo toan vật lộn với nắng gío, bão lụt.Còn đối với lũ chúng tôi, những đứa trẻ, thì lại là cơ hội. Nắng trắng đất, dưới những cục đất bệ là những chú dế than, sẽ cho ra những cuộc thư hùng đầy tiếng reo hò cổ vũ hào hứng. Mưa ư, mưa trắng trời tạo nên những trận lụt xiêu hồn lạc phách, như trận lụt Nhâm Thìn một chín sáu tư, Kỷ Dậu một chín bảy hai. Khi mà hai cánh tay của dòng Thu Bồn nhập làm một, cả một vùng quê chìm trong nước ngầu đục phù sa, người lớn âu lo vạch từng ngấn than củi trên thềm nhà, trên vách theo dõi tốc độ con nước, thì những đứa trẻ lại hí hững cầm que tre vạch từng chiếc tàu lá chuối khô, bắt những con dế cơm mập ú bỏ hang tránh nước lụt, những mái đầu thơ ngây chụm lại bên bêp than hồng, xúyt xoa thổi phù phù vào lớp vỏ cháy đen nhẽm, rồi nhai ngon lành vị béo ngậy của những con dế cơm. Nước mới dâng ư, thì những cái lờ (một dụng cụ đương bằng nhiều cọng tre mãnh tạo bóng dụ cá tức đẻ chui vào) được chúng tôi đem đi đặt dọc bờ tre Bến Nhiên, Bến Thìn, để rồi đem về nhà những con cá Diếc, cá Luối, cá Leo, cá Dưng. Khi nước nhữn nhữn Bến Quyên, lượn lờ tràn về Bến Gía, thì những cái chạp (cái rớ nhỏ) được người lớn mang ra đứng dọc bờ hiểm yếu, nơi có xóay nước cuộn lại, thỉnh thỏang lại vang lên tiếng reo hò vang cả một vùng, khi có người cất được một con cá gáy lưới tám, lưới mười (cỡ rộng của cá khỏang mười sáu, hai mươi phân). Vui biết bao những kỷ niệm ngọt ngào thơ dại, nhưng cũng đắng lòng những khốc liệt của thiên tai.

Trận lụt năm Thìn,nỗi kinh hòang trong ký ức bao người trãi qua.

Năm ấy,mưa lê thê hết ngày nối ngày,người dân quê tôi bảo là do cá Ông lụy, trời sẽ có cây lụt tiễn ông, cả một dãi đất người dân quê tôi từ duyên hải đến vùng cao, nhà nhà lo chặt cây dằn nhà chống bão, chuẩn bị cây làm dàn tránh lụt. Nhà tôi cũng không ngòai qui luật chung, nhà đã chống xong, anh tôi đang lui cui cưa tre chẻ lạt làm giàn tránh lụt. Trời vàng vọt ánh nắng quái cuối ngày, mưa tự dưng ngưng hẳn, mẹ tôi chép miệng nở nụ cười vui. Nước sông đột ngột dâng nhanh, nước tràn vào đường, trời tắt nắng hẳn, nước tràn qua sân nhà chỉ trong mấy phút. Anh tôi gấp gáp cột tre làm giàn, cha tôi , một nhà giáo yếu đuối, chép miệng vo gạo mong có nồi cơm nóng ấm lòng cho cả gia đình. Nước đã tràn vào nhà tới bụng, mẹ tôi đang vật lộn với mấy con bò, kêu lên thảng thốt, thôi rồi Dy ơi, một con bò con đã vụt khỏi tay mẹ, theo con nước trôi xuôi. Dy, anh tôi, thét vang:

       - Mẹ, buông đàn bò ra đi, không chống được đâu, mẹ lên giàn ngay, kẻo uối lạnh bây giờ.

       - Nhưng….

       - Không được tiếc. Mẹ không thấy nước lên qúa nhanh sao!

Qủa thật, chỉ ngắn ngủi mấy lời trao đổi, mà nước đã dâng lên tới ngang cằm. Cả xóm làng vang tiếng kêu cứu, bóng đêm dày đặc, con nước hung bạo như muốn nhấn chìm đi tất cả.

Có ai ngờ,trên vùng cao tây Duy Xuyên, ngọn núi Cà Tang hùng vĩ ngăn con nước thượng nguồn đã bị những trận mưa như cầm chỉnh đổ một tháng qua làm sạt lở đi một góc, nước như con ngựa hoang không người kềm tỏa, buông vó hung tàn, cả một làng trù phú nằm dưới chân núi, đưa đi theo cơn nước. Dòng sông Thu hiền hòa ngày nào, bây giờ lại là phương tiện hủy diệt nhân sinh, đưa nhà cửa, thân người ,tài sản…tất tần tật về xuôi. Tiếng kêu khóc thảm thương lịm dần theo con nước chảy.

Trong đêm đen cả nhà tôi tụm lại nhau run rẩy trên giàn, đói meo vì nồi cơm cha tôi nấu trôi theo dòng nước tự ban chiều. Nghe tiếng khóc kêu cứu của người sau bàu tre ông Điểm, cha tôi nghiến răng nuốt nước mắt vào lòng. Mẹ ôm tôi thật chặc trong lòng, như muốn chở che, dằn cơn sợ hải đang làm tôi run lên từng chặp. Đêm như đen hơn trên nước, không một cọng gío thóang qua. Tiếng nước chảy ầm ạt mang tiếng rên rỉ, gào kêu cứu của những thân người bất hạnh đang bị nước cuốn trôi vang vang trong đêm, càng làm cho xóm làng tôi thêm sợ hãi thê lương, ai biết được việc gì đang xảy ra chung quanh, trừ những kẻ có tâm địa xấu xa, đi hôi của trước nỗi bất hạnh của người khác, mà nếu có đủ dũng khí tôi sẽ kể sau. Làng Xuyên Tây của tôi, bao đời được che chở bởi lũy tre làng,nhờ vậy nó cản lại tất cả thây người, súc vật chết, nhà cửa, cùng hàng núi cây rừng theo dòng nước từ các vùng phía Tây trôi xuống. Nước năm ấy như bị cụt mất chưn, lình bình mấp mé mái tranh suốt 3 ngày, không gian càng lúc càng đặc mùi hôi thối, những tiếng rên khóc càng lúc càng lặng dần, chỉ đáng khen cho gia đình ông Hai Đề, ông có chiếc ghe nan lớn, một căn nhà rộng lớn bên xóm Mỹ Luân, cùng một tấm lòng yêu thương đồng loại cao cả, trong mấy ngày đầu ông đã vớt đầy nhà những con người trôi lụt, chăm lo miếng ăn manh áo không chút dè xẻn và sau lụt ông còn cho tiền làm lộ phí cho người ta về lại quê nhà, qủa đáng nghiêng mình. Ngược lại có một người, mà bây giờ mỗi khi nghĩ đến, tôi lại thấy đáng buồn cho họ. Trong dòng xoáy của thiên tai năm ấy, họ đã nhẫn tâm hất một người già đang cùng trôi với một chiếc rương thùng đựng tiền xuống nước, họ đã sung sướng phơi tiền bị ướt suốt những ngày sau lụt.

Trận lụt năm ấy đã làm mẹ tôi khánh kiệt, năm con bò trôi theo dòng nước cùng căn nhà tranh bị sập hoàn toàn, giống như bao gia đình khác, anh em tôi hằng ngày đến tại trung tâm huyện lỵ Duy Xuyên chực chờ nhận quà cứu trợ của người Sài Gòn gởi về. Trời cứ u ám, người người như những con ong chăm chỉ, cả nhà tôi tranh thủ nhặt nhạnh những gì còn sót lại sau thiên tai, cái thì rửa cho sạch bùn non, cái thì phơi khô hòng tận dụng, nhất là lúa và khoai sắn khô, nếu không nhanh tay sẽ hư hỏng hết. Song song cả nhà cùng cả làng ra sau bờ tre bươi lượm trong đống rều trôi bởi con nước lụt, chất như núi từ bờ tre ông Kiểm đến tận đìa Bà Tảo. Thôi thì đủ thứ, chủ yếu là củi mục và cây rừng. Thi thoảng gặp những chiếc cột, kèo, rui, mè…của những xác nhà nạn nhân trận lũ dữ. Rất may là làng chúng tôi không gặp những xác người bị nạn lẫn trong rều như tin đồn loan hằng ngày khắp vùng. Mái nhà sập của chúng tôi bây giờ như chiếc tổ cho bầy chuột người chui rúc ra vô hàng ngày, để đống củi ngày mỗi vun cao gieo niềm vui cho mẹ tôi.

   Cứ thế, năm tháng cứ hững hờ trao cho từng thân phận người mỗi năm mỗi tuổi. Làng Xuyên Tây hết xơ xác bởi thiên tai lại xanh đằm màu dâu tằm,màu vàng rực của lúa chin, mùi thơm của các loại nông sản từng mùa bay lên theo khói bếp.

   Chúng tôi lớn lên mang biết bao kỷ niệm trong hành trang cuộc đời. Chiến tranh ngày càng khốc liệt trên quê hương sau năm 1966. Với tuổi thơ, không có chổ cho lòng hận thù cũng như lòng tham. Bom rơi, mặc. Đạn nổ, kệ. Người ta khích bác nhau, lôi kéo nhau, trẻ thơ chúng tôi ngày ấy đâu cần để tâm, ghét thương của con nít là cơn gió thoảng qua. Con nít chúng tôi bơi trong sự vô tư của cuộc đời, chúng tôi vui với những gì quê hương có. Bạn có muốn nghe những kỷ niệm này không?

Cá giếc, một sản vật vô giá của miền trung,mà sau nầy khi đã trưởng thành,tôi mới hiểu. Nó chỉ sống ở dãi đất nghèo xứ Quảng.Với hình dạng như cá chép, cá dưng, đôi mắt của cá mè cá trắm, màu của cá mè dinh miền Nam, thịt rất thơm và lành, lắm xương hom nhưng rất ngọt. Nơi tụ hội nhiều nhất của loài cá này là những bàu sen, bàu súng, đáy phải nhiều bùn. Ban đêm, chúng từ dưới vũng sâu len vào những doi cát cạn tự tình, từng đôi nhẹ nhàng phe phẩy uốn lượn bên nhau, và thật tệ, do hiểu thói quen ấy của chúng, con người đã dùng những bó đuốc tre ngâm phơi khô nõ soi và dùng nơm bắt lấy. Nhưng thật ra ,đi soi người ta chỉ có thể bắt những con nhỏ, muốn bắt con lớn, ta phải câu. Mà nói câu cá giếc thì nói không ngoa, đó là công việc của những nghệ sĩ, hoặc người đang nuôi chí lớn như Khương Tử Nha, bởi vì người câu phải có đức tính kiên nhẫn, khéo léo, cảm giác câu phải tinh tế. Người câu phải có con mắt quan sát khu vực câu tinh tường, nhìn mặt nước qua bọt tăm đoán nơi ấy có cá nhiều hay ít. Cần câu giếc phải nhỏ mà cứng, bẻo dẻo, nhợ phải mãnh, bền, chịu đươc lực kéo của những con cá to như bàn tay xoè, lưỡi câu nhỏ mà cứng. Ngoài ra, người câu cũng phải biết cách làm mồi nhử để dụ cá. Mồi nhử là cả công trình nghiên cứu của dân đi câu, bao gồm cách rang, xay của các loại hạt tạo mùi thơm là mè, hoa đại hồi, tiểu hồi, cám gạo…Giun móc vào lưỡi câu là một loại trùn nhỏ màu hồng có khoang màu đỏ ở cổ. Người câu còn phải sắm một chiếc cuốc chỉa nhỏ có cán dài dùng làm sạch cỏ nơi câu. Cho nên, nói không ngoa, dân gian có câu nói “ Siêng đi tát,nhác đi câu” trong trường hợp câu giếc là …trật. Người câu lỉnh kỉnh mang theo nào giỏ, cần, cuốc chỉa, mà cần thì tối thiểu phải 4 chiếc, hộp đựng nhợ, lưỡi xây cua, gói bột nhử, đất sét…Khi đến địa điểm câu, chọn được vị trí xong, người câu lập tức dọn khoảng nước câu rộng chu vi chừng 2 mét vuông, sao cho đáy phẳng, không còn cọng cỏ hay gốc sen, cành gỗ mục. Xong, so dây nhợ, sao cho khi thả câu chì câu nằm sát đáy, khoe con giun màu đỏ nguyên con nằm trong nước thật khiêu khích, phải so sao cho chiếc phao dài nằm nghiêng, 4 chiếc cần đã vào vị trí, người câu lúc ấy sẽ lăn bột nhử vào đất sét, ném xuống khoảng giữa nơi câu. Lúc này người câu mới thong thả vấn thuốc rê châm lửa ngồi lặng lẽ quan sát mặt nước. Mùi bột nhử nhẹ nhàng lan toả, khứu giác của cá rất tinh. Từng con giếc sẽ xâm nhập vùng câu. Mặt nước bắt đầu nổi lăn tăn tăm cá, người câu chuyên nghiệp nhìn tăm sẽ biết cá vào nhiều hay ít, lớn hay nhỏ. Cá giếc khi ăn rất tao nhã, chiếc phao bắt đầu rung động, sau đó từ từ nổi lên nằm ngang, xong chiếc phao sẽ chầm chậm đi vào vùng cỏ chung quanh. Thần kinh người câu khi đó rất căng thẳng, nhẹ nhàng cầm vào chiếc cần có cá ăn, gặt nhẹ , một cảm giác kích thích nhói lên tự đáy sâu thẳm, chiếc cần tuỳ theo độ lớn bé của cá mà chiếc bẻo cong ít nhiều. Người câu không dám giật mạnh cần vì miệng cá giếc phần trước chỉ là một mớ thịt mềm, có thể sẩy con cá như chơi. Cứ thế, dong con cá vào bờ với cảm giác hồi hộp, sung sướng lâng lâng. Mà thế quái nào ấy, cá giếc lại được người đời sử dụng làm món ăn nhiều kiểu, mà kiểu nào cũng lại rất hấp dẫn. Chỉ cần một nồi nước đang sôi thả vào đó vài con cá với dúm lá rau răm là ta đã có bát canh giải nhiệt ngọt đứ đừ. Hay một nồi cháo trắng đang sôi, 5-7 con giếc làm sạch thả vào, một bửa cháo cá tuyệt hảo mời gọi cả nhà 4-5 người. Còn người bị bệnh lâu ngày mệt mỏi, thiếu máu thì người ta lại chọn những con cá giếc hom (cá nhỏ độ 3 ngón tay trở xuống), thả những con cá khoẻ mạnh trong một thau nước sạch, người bệnh bắt lấy từng con, cắn một miếng ngang lưng gần sát xương sống, ăn cùng vài lá rau răm…người ta gọi là ăn xương cầm, một bài thuốc đông y. Kể cũng lạ, sản vật đặc biệt này độ ngon dở lại phụ thuộc vào vùng nước mà chúng sinh sống, nước cá khi kho cũng màu sắc khác nhau. Ở quê tôi, cá bắt được ở bàu Dương Tư (Hà Mật) và Hục Liêu (cuối nghĩa địa của làng hiện nay) là ngon nhất, khi kho màu nước cá kho có màu đục như nước cơm. Và cũng thật đáng buồn, do bị săn lùng qúa độ bằng xuyệt điện mà hiện nay cá giếc trở nên khan hiếm, có khả năng tuyệt diệt, nó đã trở thành đặc sản được vận chuyển bằng máy bay đến các nhà hàng sang trọng trong khắp cả nước. Với tôi,cá giếc đã trở thành kỷ niệm.

   Chưa hết đâu, mùa nắng, nước các sông rất cạn, lại là cơ hội cho những người nông dân trong lúc nông nhàn. Sáng sớm, từng nhóm người rủ nhau lên sông, nơi nào có nhiều vỏ hến chết, người ta lại cào lạch, con lạch là một loại lươn màu trắng nhỏ như những chiếc đủa, sống luồn lách trong cát, thức ăn của nó chủ yếu là hến và mùn hữu cơ. Dụng cụ cào lạch là một chiếc móc rèn bằng thép dẹt, được uốn như một chiếc cổ cò đang ngểnh lên nhìn trời, chiếc cổ cò được người thợ rèn khéo léo uốn lại có độ hở vừa bằng chiếc đũa, đủ giữ con lạch lại nơi chiếc móc, chiếc móc nầy được cắm vào chiếc cán tre gìa vừa tay cầm. Nhóm người giăng hàng ngang sông, hai cánh tay lực lưỡng cầm lấy cán tre cong theo chiều cổ cò của chiếc móc, cào mạnh vào cát trước mặt, kéo lưỡi cò đi soạt soạt trong cát, những con lạch sẽ cố tuôn đi để tránh, nhưng tránh đâu cho thoát…Trong nắng, từng chặp, tiếng reo vui vẽ vang lên khi đây đó lủng lẳng trong móc là những con lạch mập ú. Lạch là sản vật có giá trị dinh dưỡng rất cao, lại thơm ngon tuyệt hảo dùng để kho rim, nấu canh chua (lẫu), nấu cháo…nhất là mùa nước lụt, khi bụng lạch đầy trứng.

Trần Ka Tê

Sài Gòn -10/02/2015

( còn tiếp )